Sự Thay Đổi Cấp Thiết

Hỏi: 

- Tôi có chân trong nhiều tổ chức gồm có tôn giáo, làm ăn buôn bán và chính trị. Rõ ràng là sống trong xã hội, chúng ta phải có chân trong những tổ chức, hội đoàn, nhóm bạn nào đó. Nay sau khi nghe ông nói, tôi tự hỏi, vậy thì có sự quan hệ nào giữa tự do và các tổ chức tập hợp chăng? Tự do bắt đầu từ đâu và tổ chức chấm dứt tại đâu? Mối quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo và sự giải phóng là cái gì? 

Krishnamurti đáp:

- Con người ta khi sống trong một xã hội phức tạp, những tổ chức, hội đoàn là cần thiết để có thể truyền thông, di chuyển, vận tải thực phẩm, quần áo, xếp đặt nơi ăn chốn ở, hoạt động mọi loại cộng việc phục vụ cho đời sống của tập đoàn xã hội, dù là tại tỉnh thành hay nơi thôn quê. Ðiều này phải được tổ chức cho có hiệu quả và nhân đạo, không phải chỉ vì sự lợi ích của một nhóm nhỏ, mà là vì sự lợi ích cuûa tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch, chủng tộc hoặc đẳng cấp trong xã hội. Trái đất này là của chúng ta, không phải là của bạn hoặc của tôi. Ðể được sống hạnh phúc và khỏe mạnh, phải có những tổ chức lành mạnh, hữu hiệu và hoạt động với tinh thần tôn trọng lẽ phải. Có những sự hỗn loạn xẩy ra ngày nay là vì đã có sự chia rẽ. Hàng triệu người đói là vì có những nơi khác quá giầu có. Có chiến tranh, xung đột và đủ loại hành động tàn bạo xẩy ra. Rồi thì lại có những tổ chức của tín ngưỡng – tổ chức của tôn giáo, mà từ chính nó lại sinh ra tình trạng gây chia rẽ và chiến tranh. Nền đạo đức mà con người đã theo đuổi nay lại dẫn đến sự mất trật tự và rối loạn. Ðó là tình trạng thực tế của thế giới ngày nay. Và khi mà bạn hỏi rằng có sự quan hệ nào giữa các sự tập hợp, tổ chức đối với sự tự do, phải chăng bạn đã không tách rời được sự tự do ra khỏi cái thực thể hiện hữu? Chúng ta không nhận ra rằng chính chúng ta đã tạo dựng nên cái xã hội này, sự hỗn loạn này và bức tường ngăn cách này, cho nên mỗi người trong chúng ta đều phải lãnh trách nhiệm. Chúng ta thế nào thì xã hội như thế. Xã hội không khác chúng ta. Nếu chúng ta mâu thuẫn, tham lam, ganh ghét, sợ hãi, chúng ta sẽ xây dựng nên cái xã hội giống như thế.

Hỏi: 

- Có sự khác biệt giữa cá nhân và xã hội. Tôi là người ăn chay, xã hội giết súc vật. Tôi không thích chiến tranh, xã hội bắt tôi ra mặt trận. Bộ ông cho rằng trận chiến này do tôi tạo ra chăng?

Krishnamurti đáp:

- Ðúng, đó là trách nhiệm của bạn. Bạn đã gây ra điều đó từ quan điểm về quốc tịch, về lòng tham, về sự ganh tị, về lòng thù ghét của bạn. Nếu trong tâm bạn mang những tư tưởng đó thì bạn phải chịu trách nhiệm về chiến tranh, khi mà bạn còn thuộc về một quốc gia, một tín ngưỡng, một chủng tộc nào đó. Chỉ có những người đã thoát ra khỏi những điều kể trên, họ mới có thể nói rằng họ đã không tạo ra cái thế giới hỗn loạn này.

Cho nên, trách nhiệm của chúng ta là nhìn thấy sự thay đổi nơi chúng ta, và giúp những người khác thay đổi mà không phải dùng đến bạo động và đổ máu.

J. Krishnamurti – The Urgency of Change

Người dịch: Danny Việt (ĐPK)

Có ai “ăn trộm Pháp” không ?

Có vị sư bà trụ trì chùa kia dạy rằng:

- “Chỉ được học Pháp từ chư Tăng và chư Ni, không được học Pháp từ cư sĩ. Chư Tăng Ni mới là thày dạy chính thống, cư sĩ không có tư cách giảng Pháp, họ chỉ là những kẻ ăn trộm Pháp, ai nghe họ giảng sẽ bị đọa địa ngục”.   

Tôi là một Phật tử đứng ngoài cổng chùa. Tại sao không vào chùa mà lại đứng ngoài? Nếu người hỏi mà là người giầu có thì sẽ không hiểu nỗi khổ tâm của tôi đâu. Cũng như ông vua quen sống sung sướng, khi nghe thấy nói rằng dân nghèo đói lắm, bèn hỏi:

- “Sao dân ngu thế, đói thì sao không nấu cháo thịt mà ăn?”.

Nếu quí vị tiền rừng bạc biển mà nghe tôi nói rằng vì nghèo nên không dám đến chùa thì quí vị sẽ rất ngây thơ, trả lời:

- “Sao “chấp” thế. Cửa chùa từ bi, đâu có phân biệt giầu nghèo!”

Những người nghèo họ có cái bén nhậy, cái mặc cảm và cái “tủi thân” của họ. Chính tai tôi đã nghe lời dè bỉu của một bà kia sau khi nhận tiền cúng dường của một Phật tử khác, bà nói nhỏ:

-“Ui da! Cúng được năm đồng bạc! Ai cũng thế này thì có mà dẹp chùa!

Bản thân tôi, khi cầm tờ “Liệt kê tên và số tiền góp” chuyển ngang qua, tôi cũng rất sượng sùng mà moi từ túi ra số tiền khiêm tốn, dù sự đóng góp này cũng đã là một cố gắng. Tôi cũng rất thông cảm với nhà chùa, cần tiền trả bills, nhưng tôi cũng lại thắc mắc rằng tại sao phải làm chùa “càng ngày càng to”, trong khi Phật tử thì ít, chùa thì nhiều, Phật tử chùa này mà sang chùa khác lễ lạy, thọ bát quan trai, thì bị thầy nói mát mẻ:

-“Sao không đi “chùa nhà” mà đi “chùa người ta”?

Nhưng trong cái rủi, luôn luôn có cái may tiềm ẩn. Tôi tin sâu nhân quả, nên tin rằng tôi có duyên lành với đạo Phật. Nhờ không có phương tiện tốt để đi chùa, nên tôi lại có được sự khách quan, không bị tinh thần bè phái phe nhóm “chùa mình”, “chùa người”, chi phối, không bị ràng buộc vào hàng ngũ đệ tử riêng của thầy này thầy nọ, không bị tật xấu tôn sùng thần tượng che mờ mắt, nên tôi lại được tự do, thanh thản bơi lội trong rừng kinh sách, hưởng nhiều mùi vị thơm ngon qua dòng sữa chánh pháp trực tiếp từ kinh điển của nhà Phật. Khi đọc sách, tôi không để ý đến tên và hào quang của tác giả, không để ý đến vị trí tu sĩ hay cư sĩ của họ, vì tôi đã thấm nhuần lời dạy của Ðức Bổn Sư Từ Phụ:

… “Y pháp bất y nhân” …

… “Bất cứ giáo lý nào ngươi có thể quả quyết rằng chúng đưa tới diệt đam mê chứ không đưa tới đam mê, tới siêu thoát chứ không ràng buộc, tới giảm trừ của cải thế tục chứ không tới tích lũy của cải, tới thanh đạm chứ không tới thèm muốn, tới an lạc chứ không tới phiền não, tới minh mẫn chứ không tới u mê, tới hân hoan với thiện pháp chứ không tới sung sướng với ác pháp, thì với những giáo lý đó, ngươi có thể quả quyết rằng: “Ðó chính là Giới, đó chính là Luật, đó chính là Huấn thị của Ðức Thế Tôn“…

Dùng lời dạy kể trên chiếu qua kinh sách, tôi tránh được sự hoa mắt vì hào quang của thần tượng. Trong số những bậc thầy hàm thụ của tôi, mà tôi được học qua sách và băng giảng của chư vị, có cả tu sĩ và cư sĩ. Một trong những cư sĩ mà tôi rất mang ơn là cụ Ðoàn Trung Còn. Cụ soạn bộ Phật Học Từ Ðiển trên 2000 trang, có thích nghĩa bằng cả 4 thứ chữ, chữ Phạn, chữ Nho, chữ Pháp và chữ Việt, cuốn này là một trong những hải đăng của tôi trên con đường mò mẫm trong biển Phật học.

Trong cuốn Tăng Ðồ Nhà Phật in năm 1942, cụ viết những lời tâm huyết khi giải thích các bài Kệ hằng ngày của tăng ni như sau:

… “Ðọc qua những Kệ này, dẫu không đứng về phương diện tôn giáo, mà đứng về phương diện khảo cứu, cũng thấy rằng Sư đạo Phật thật là một hạng người thanh cao, từ hòa, ái mẫn, bao giờ trong sự lợi ích của mình cũng đoái tưởng đến mọi người và vạn vật, hằng xét nghĩ và cầu nguyện cho tất cả chúng sinh. Nói cho phải, nhà Sư đạo Phật vì đồng loại, vì chúng sinh mà sống còn, mà tấn hóa chứ không phải vì mình. Thật là một cuộc đời đầy sự từ bi, bác ái, hy vọng và khiêm tốn….”…

Ðây là lời chân thành của một cư sĩ ca ngợi đời sống cao thượng của chư vị tu sĩ. Tiếc thay dẫu vậy, theo lời bà Tu Sĩ kia, thì cụ cũng chỉ đứng trong hàng ngũ “ăn trộm Pháp” mà thôi.

Nhìn bằng con mắt của bà Sư này thì hàng ngũ “ăn trộm Pháp” đông lắm. Tôi chỉ xin liệt kê vài trường hợp điển hình mà thôi. Ở Ấn Ðộ, ngoài hai cư sĩ danh tiếng Duy Ma Cật và Thắng Man Phu Nhân ra (vì có thể bị bác bỏ rằng hai vị này không có trong lịch sử Ấn Ðộ) thì vua A Dục đứng ở đầu sổ, bên Trung Quốc có Lương Võ Ðế và con là Thái Tử Lương Chiêu Minh, bên Nhật có Thánh Ðức Thái Tử, Tây Phương có Ðại Tá Olcott tận tụy cả đời tranh đấu cho Phật Giáo, viết sách để phổ biến Phật pháp và chính ông là người sáng chế ra lá cờ Phật Giáo, ngoài ra còn có Bác sĩ D.T. Suzuki từ Nhật qua giảng kinh, thuyết pháp, viết sách, đem hàng vạn người trở lại Ðạo Phật, bên Việt Nam có Vua Trần Thái Tôn, tác giả nhiều bộ sách dạy về đường lối tu trì, thời hiện đại có các cụ Lê Ðình Thám, Ðoàn Trung Còn, Mai Thọ Truyền vân …vân…

Ðạo Phật là con đường đi từ Từ Bi, Trí Tuệ, tiến tới giác ngộ, giải thoát hoàn toàn khỏi vòng luân hồi sinh tử bị chi phối bởi Nghiệp. Trưởng Tử Như Lai được đức Phật giao phó nhiệm vụ cầm đuốc soi đường cho chúng sinh, nên dành nhiều thì giờ nghiên cứu kinh điển, tu hành Lục Ðộ Ba La Mật, thì mới đủ khả năng giảng dạy chánh pháp. Sống trong ánh hào quang của Ðức Thế Tôn, chư vị nên mở rộng tâm ra để mà tiến bước trên con đường tự giác, giác tha, thường nên tự xét xem có xứng đáng với lời ca ngợi của cụ Ðoàn Trung Còn hay không, thường nên tự nhắc nhở để tránh phạm vào lỗi “lạm nhận sự cung kính của Cư sĩ” do không làm tròn nhiệm vụ bậc thầy.

Thầy đây là thầy dẫn đường cho chúng sinh ra khỏi sinh tử luân hồi, chứ không phải là thầy cúng, chỉ cần giỏi khua chuông gõ mõ ê a là đủ! Nếu có tâm từ bi, thương chúng sinh như ruột thịt, hãy nghĩ đến họ đang lần mò trong đêm tối của vô minh, phải nên tận tụy tìm mọi phương tiện thiện xảo, dạy cho họ biết tu hành để ra khỏi nhà lửa.

Không phải tu hành chỉ là đến chùa cúng tiền, làm Phật sự không phải chỉ là cầu siêu cầu an! Nếu thấy có người đem giáo pháp của đức Phật truyền bá cho chúng sinh thì nên đến nghe coi họ nói đúng hay sai, họ nói đúng thì nên tùy hỷ, mừng rằng có thêm người hiểu được đạo Pháp, họ nói sai thì tìm cách chỉ dẫn cho họ đi vào chính đạo, khuyên họ không nên làm hại chúng sinh, dạy sai, khiến chúng sinh lạc đường trở lại bản thể, bởi vì ngay chính người thuyết pháp cư sĩ đó thì cũng là một chúng sinh, Trưởng Tử Như Lai cũng có nhiệm vụ giúp đỡ nếu họ lạc đường. Phật tử cư sĩ là con của Phật. Sư là thầy. Trưởng Tử Như Lai là anh lớn của cư sĩ. Là thầy, là anh lớn của cư sĩ, nên cư sĩ Phật tử phải cung kính cúng dường. Anh lớn phải đem ánh sáng của đạo Giác ngộ rọi vào vọng tâm vô minh của các em, đưa các em lên bờ giác ngộ. Cho nên Tăng Ni mới được tôn là một trong Tam Bảo, hàng ngũ tôn quý. Rất nhiều vị trong hàng ngũ tôn quí đó đã làm tròn nhiệm vụ Ðức Phật giao phó, tinh tấn tu hành để Tự Giác, tận tụy dạy dỗ chúng sinh để Giác Tha, quyết đi đến Giác Hạnh viên mãn. 

Ðạo Phật có nghĩa là đạo Giác Ngộ. Giác ngộ rằng từ một niệm vô minh bất giác mà duyên theo hành nghiệp, cuốn trôi vào vòng sinh tử luân hồi, do chấp rằng có cái thân này và thế giới vật chất trước mặt là thực thể, bám chặt vào tư tưởng đó, nảy ra tham sân si rồi tạo nghiệp, trả quả liên tục trong mê hồn trận, nếu không nhờ có ánh sáng của đạo Giác Ngộ chiếu vào, thì sẽ không có ngày chấm dứt. Dù ánh sáng giác ngộ chiếu vào nhưng chúng ta phải vâng theo lời Ðức Bổn Sư mà tu tập, xả bỏ những vướng mắc, của cải, từ vật chất đến tinh thần, đi đến tâm hoàn toàn thanh tịnh, mới tới được bờ Trí Huệ giải thoát. Cho nên bước đầu của đường tu là bước Bố Thí, để xả bỏ mọi tham luyến, rồi đến tránh không làm điều ác là Trì Giới, không nổi tham sân si giành giật với người khác là Nhẫn Nhục, siêng năng tu tập là Tinh Tấn, thanh tịnh hóa tâm bằng các pháp môn Tọa Thiền, Niệm Phật, Trì Chú, Tụng Kinh, tâm sẽ lắng xuống, gạn lọc ô nhiễm, trở nên an tịnh là Thiền Ðịnh, đây là cảnh giới Trí Huệ, giải thoát.

Làm tất cả những điều kể trên mà không tự hào là có ta đang tu, đang chứng, thì đó là Lục Ðộ Ba Lạ Mật.

Tại sao cửa đầu tiên phải là Bố Thí? Lý do là chính vì lòng tham lam thu góp, nắm giữ của cải, tình cảm… vân.. vân.. của riêng mình mà chúng ta đã tạo nên nghiệp chướng liên miên từ vô lượng kiếp. Nay muốn chấm dứt dòng luân hồi bị chi phối vì nghiệp báo ấy thì phải lập tức xả bỏ mọi vướng mắc kể trên. Cho nên, thời Ðức Phật còn tại thế, chư tăng ni chưa có chùa riêng, ban ngày tọa thiền và đêm ngủ đều tại gốc cây, nhưng Ngài không cho chư đệ tử ngủ ba đêm liền dưới cùng một gốc cây, vì sợ chư vị nảy sinh ra ý tưởng sở hữu, thu vén sao cho tiện nghi, đẹp đẽ làm nơi ở của TA. Ðức Phật là bậc Ðại Giác. Ngài biết rằng nếu đã thiết lập nên cái “của TA” thì từ đó sẽ nảy sinh ra muôn ngàn chướng ngại cho con đường tu hành.

Ðã là Tu Sĩ Phật giáo thì tâm từ bi phải tỏa rộng, được Phật tử cung kính thì phải học tập, tu hành cho có khả năng để bố thí Pháp, vâng theo lời Ðức Phật dạy mà soi đường cho chúng sinh, kẻo mà vướng vào cái gọi là “hư tiêu tín thí”. Nếu như vì lý do nào đó mà không giảng pháp, lại có các cư sĩ đứng ra chỉ dẫn cho nhau, nên xem nếu họ có đủ khả năng thì tùy hỉ khen ngợi, giúp họ phương tiện để hoằng truyền đạo Giác Ngộ cho lan rộng khắp thế giới, để mọi người đều hân hoan bơi lội trong biển Phật Pháp, thoát được địa ngục vô minh tham sân si, không nên tự coi mình như là con thừa tự được hưởng gia tài, đem kinh điển đi làm “nhãn hiệu trình tòa” để giành độc quyền, rồi dọa dẫm Phật tử rằng họ nghe pháp của cư sĩ giảng là bất hợp pháp, sẽ bị tội đồng lõa, dọa dẫm đủ loại địa ngục! 

Cũng chỉ vì cái quan niệm mê tín dị đoan, lưu truyền từ thời phong kiến, phân chia ra mọi loại giai cấp, khiến cho một số người lợi dụng tình thế tự phong thần cho chính mình, tạo nên bức màn huyền bí, làm cho biết bao nhiêu người chỉ vì không dám thắc mắc đối với Tăng Ni, sợ đọa địa ngục, mà một “sư cô” (sau này còn tự “tôn xưng” là ” Vô Thượng Sư T.H.”), vốn gốc là đệ tử của mấy vị Ðại Sư, mới có được cái “dù” quyền lực thần bí mà lôi tuốt hàng ngàn đầu óc mê muội vì sợ sệt vào thẳng “Ðịa Ngục vô minh tại thế”.

Pháp thường hằng và mênh mông khắp nơi. Tâm được giải thoát khỏi Tam Ðộc là hội nhập được Chánh Pháp, rồi đem lòng từ bi san sẻ với tha nhân, cùng nhau tu hành tự giác giác tha cho đến giác hạnh viên mãn thì sẽ hòa vào với Pháp là Bản Thể Chân Tâm. Không nên hẹp hòi đem Pháp bỏ vào lọ, trình tòa để làm của riêng, tự cho mình là dòng chính thống được độc quyền khai thác, không mở rộng tâm ra, tối ngày bo bo giữ của, sợ người này người kia “ăn trộm Pháp”, thì sẽ chỉ là người coi kho đếm tiền, không có cơ hội được thấm nhuần mùi vị giải thoát.

Nguồn hào quang rực rỡ của Ðại Giải Thoát mà lại bị những người tự nhận là có độc quyền muốn thuyết pháp cho ai, muốn thu, phát lúc nào, hoặc riêng tặng ai tùy ý mình, muốn đem nhốt Pháp vào lọ biến thành của gia bảo, cha truyền con nối cho riêng tầng lớp mình, thật là Ðại Khôi Hài !!!

Liên Hương (ĐPK)

(11-27-99)

Khi Tâm Hồn Được Khai Phóng

Hỏi :

- Sao ông không giúp đời bằng cách thực tế mà lại phí thời giờ đi thuyết giảng như vậy?

Krishnamurti đáp :

- Thế bạn muốn nói gì khi dùng chữ thực tế? Bạn muốn nói về chuyện mang đến một sự đổi thay trên thế giới, một sự điều chỉnh hài hòa hơn trong nền kinh tế, một sự phân phối tài nguyên tốt đẹp hơn, một mối quan hệ thân tình hơn, hay nói một cách lỗ mãng, là giúp bạn kiếm được việc làm tốt hơn. Bạn muốn thấy có sự đổi thay trên thế giới, – mọi người thông minh đều muốn, – và bạn muốn có một phương pháp để làm chuyện đổi thay đó, và vì thế, bạn hỏi tôi tại sao lại phí thời giờ đi thuyết giảng thay vì làm việc gì đó cho chuyện thay đổi.

Vậy xin hỏi rằng có thật tôi đang làm chuyện phí thời giờ vô ích chăng? Sẽ là chuyện phí thời giờ thật đấy, nếu tôi giới thiệu một hệ tư tưởng mới để thay đổi hệ tư tưởng cũ, mẫu mực cũ. Có thể đó là điều bạn muốn tôi làm. Nhưng thay vì chỉ ra một “cái gọi là đường lối thực tế ” để hành động, để sống, để kiếm việc làm tốt hơn, để tạo ra một thế giới đẹp đẽ hơn, thì việc tìm cho ra cái gì là chướng ngại vật đã thực sự ngăn cản một cuộc cách mạng toàn diện, không phải là cuộc cách mạng nửa vời , mà là từ nền tảng, một sự thay đổi quyết liệt, từ gốc rễ, không chỉ trên quan niệm, lý thuyết suông, đó không phải là điều quan trọng chăng? Bởi vì những lý tưởng, những niềm tin, những ý thức hệ, những giáo điều, đều ngăn cản hành động.

Thế giới không thể chuyển biến toàn diện, không thể là một sự đổi thay triệt để, khi mà hành động còn được đặt căn bản trên quan niệm, bởi vì khi đó hành động chỉ là phản ứng và quan niệm, lý thuyết, được coi là quan trọng hơn hành động rất nhiều. Một cách chính xác, đây có phải là chuyện đang xảy ra trên thế giới chăng? Muốn hành động, chúng ta phải tìm ra điều chướng ngại nó đã cản trở hành động.

Nhưng thật ra thì phần lớn chúng ta không thích hành động, đó là điều gay go của chúng ta. Chúng ta thích bàn cãi, chúng ta thích thay đổi ý thức hệ này sang ý thức hệ khác, và vì thế, chúng ta cứ lảng tránh chuyện hành động bằng những lý thuyết suông. Chắc chắn là như thế thì quá đơn giản rồi, phải vậy không?

Thế giới ngày nay phải đối diện với rất nhiều vấn đề: nạn nhân mãn, nạn thiếu thực phẩm, sự phân chia loài người thành nhiều chủng tộc, giai cấp, vân vân. Tại sao không có một nhóm người ngồi xuống để cùng nhau giải quyết vấn đề chủ nghĩa quốc gia, dân tộc? Nhưng mà nếu chúng ta muốn trở thành quốc tế hòa đồng trong khi còn bám chặt lấy tinh thần quốc gia của chúng ta, thì chúng ta lại tạo ra một vấn đề khác. Và đó là điều phần đông chúng ta đang làm.

Vậy thì bạn thấy đó, rõ ràng là những điều lý tưởng, những tiêu chuẩn, đã ngăn cản hành động. Một chính khách, nhà thẩm quyền đầy uy tín, đã nói rằng thế giới có thể sắp xếp lại để mọi người đều được cung cấp thực phẩm. Vậy tại sao lại không làm được chuyện đó? Bởi vì có sự mâu thuẫn giữa những quan điểm, những niềm tin và chủ nghĩa dân tộc. Cho nên, chính những quan niệm đã ngăn cản sự cung cấp đồ ăn cho con người. Và phần đông chúng ta hiện đang đùa giỡn với những quan niệm mà vẫn cứ tưởng rằng chúng ta đang tích cực làm cách mạng, tự mê hoặc mình với những từ ngữ như là thực tế.

Điều quan trọng là chúng ta hãy tự giải thoát ra khỏi những quan niệm, khỏi sự phân biệt chủng tộc, khỏi những niềm tin và giáo điều, từ đó, chúng ta có thể hành động, không phải nương theo một mẫu mực hoặc một hệ tư tưởng, mà chỉ tùy theo nhu cầu đòi hỏi mà thôi.

Chắc chắn là việc đi tìm những sự cản trở, những chướng ngại đã ngăn cản công cuộc này thì không phải là phí thời giờ, không phải là những chuyện huênh hoang, rỗng tuếch. Điều bạn nói hiển nhiên là vô nghĩa. Những tư tưởng, niềm tin, quan điểm chính trị và kinh tế của bạn thật ra đã làm phân hóa giữa con người với nhau và đưa tới chiến tranh. Chỉ khi nào tâm trí được giải thoát khỏi những quan niệm và niềm tin thì nó mới có thể hành động một cách công chính được.

Một nhà ái quốc nặng lòng với dân tộc, có thể sẽ không bao giờ biết bốn bể đều là anh em (tứ hải giai huynh đệ) là thế nào, dù anh ta có thể cũng nói về điều đó đấy, nhưng ngược lại, trong hành động của anh ta, về mặt kinh tế và trong mọi chiều hướng, đều dẫn tới chiến tranh.

Cho nên chỉ khi nào tâm trí giải thoát khỏi mọi loại khái niệm, không chỉ hời hợt trên bề mặt, mà là từ nền tảng, thì mới có hành động công chính và do đó mới có sự chuyển hóa triệt để và bền vững. Mà sự giải thoát khỏi được những khái niệm, quan điểm, thì chỉ có thể xẩy ra qua sự tự tỉnh thức và tự giác.

J. Krishnamurti — On Relationship
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)