Vấn đề thẩm quyền

Hỏi :

- Thưa ông Krishnamurti, ông nói rằng tất cả những vấn đề của chúng ta đều nẩy sinh ra từ một vấn đề, đó là chúng ta sống cuộc đời do người khác chỉ cho cách sống. Chúng ta thuộc loại người bàn nhì, và trải dài từ bao nhiêu thế kỷ tới nay, chúng ta đã có đủ loại thẩm quyền. Nay đã đến lúc giới trẻ nổi dậy để phản kháng lại các loại thẩm quyền. Xin ông cho biết riêng cá nhân ông, cái gì đã khiến cho ông chống lại thẩm quyền?

J. Krishnamurti đáp:

- Tôi không nghĩ rằng cá nhân tôi có điều gì để chống lại thẩm quyền, nhưng bản thân thẩm quyền, đối với toàn thế giới, nó đã làm thui chột biết bao tâm hồn, không riêng về mặt tôn giáo mà ngay chính từ nội tâm, bởi vì thẩm quyền về niềm tin tôn giáo gây nên ấn tượng chắc chắn đã phá tan khả năng khám phá thực tại. Người ta dựa dẫm vào thẩm quyền vì người ta sợ phải đứng đơn độc.

Hỏi:

- Tôi hơi thấy bối rối về điều này, bởi vì sự tích lũy biết bao trí tuệ của loài người chắc chắn rằng không phải tất cả đều là đồ bỏ.

J. Krishnamurti đáp:

- Không, nhưng cái gì là trí tuệ ? Sự tích lũy hiểu biết là trí tuệ chăng? Hay là trí tuệ chỉ đến khi sự đau khổ chấm dứt? Tóm lại, trí tuệ không ở trong sách, cũng không ở trong sự tích lũy hiểu biết về kinh nghiệm của người khác. Chắc chắn rằng trí tuệ phải đến từ sự tự tri, từ nội tâm của mỗi người, từ sự khám phá toàn bộ cấu trúc về tinh thần của chính họ. Khi người ta đã thâm hiểu về chính bản thân thì đó là lúc chấm dứt đau khổ và khởi đầu của trí tuệ.

Làm sao mà một tâm hồn có thể sáng suốt khi còn bị kẹt vào với sợ hãi và buồn phiền. Chỉ khi nào sự sầu não, sợ sệt chấm dứt, khi đó người ta mới có khả năng trở thành sáng suốt.

J. Krishnamurti – Meeting Life

Người dịch Danny Việt (ĐPK)

Phật pháp trong đời sống

 

 

Xin trích dịch một số câu hỏi, được Ni Sư Thubten Chodron giải đáp trong cuốn Buddhism for Beginners. 


Ni Sư Thubten Chodron là người Hoa Kỳ, đã viết nhiều sách giảng dạy Phật pháp như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân…. Cuốn Buddhism for Beginners được giới thiệu như sau:

“Cuốn sách này bao hàm những vấn đề căn bản nhất, đã gây thắc mắc trong tâm những người phương Tây, vốn còn xa lạ với cách tu tâm của người phương Đông. Với cách hành văn trong sáng và hấp dẫn, Ni Sư Thubten Chodron đã đưa người đọc qua những đề tài thông thường trong đời sống hằng ngày, dưới ánh sáng giáo lý của nhà Phật, nói về những cách sống sao cho sáng suốt, an lạc và hạnh phúc hơn. Tác giả đã gỡ bỏ những bối rối, hiểu lầm, trong tâm chúng ta, và dẫn chúng ta tiến vào những điều căn bản nhất của đời sống tinh thần sinh động và phong phú này.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói như sau:

“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả những câu hỏi và những giải đáp của Ni Sư Thubten Chodron, trích dịch từ cuốn sách kể trên.

Hỏi: 

- Làm thế nào để một người sống cuộc đời bình thường, một cư sĩ, không phải là tu sĩ, có thể thực hành Phật pháp?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

– Những người sống cuộc đời bình thường, những nam cư sĩ và nữ cư sĩ, không phải là tu sĩ, vẫn có thể thực hành Phật pháp như mọi người khác, trong công cuộc rèn luyện tâm trí. Tại một vài nền văn hóa Phật giáo, người ta đã tự đánh giá thấp khả năng của họ, khi nghĩ rằng: 

- “Tôi chỉ là một cư sĩ bình thường. Nghe pháp, tụng niệm, tọa thiền là công việc của chư Tăng Ni. Đó không phải là việc của tôi. Tôi chỉ được tới chùa để lễ lạy, cúng dường Tam Bảo và cầu xin cho gia đình tôi được sự phù hộ độ trì mà thôi”. 

Những việc làm như tới chùa lễ lạy, cúng dường Tam Bảo, cầu xin cho gia đình, vân vân, thì cũng tốt. Nhưng các cư sĩ có khả năng để làm hơn thế. Họ có thể học hỏi giáo lý, tu tập để thăng hoa tâm linh, và đem những lợi ích của sự tu tập đó ứng dụng vào cuộc đời. Các cư sĩ nên thường xuyên đi nghe giảng về Phật pháp. Và khi có thể, thì tham dự những khóa tĩnh tâm. Như thế, mọi người sẽ đều được thấm nhuần giáo lý giải thoát và sự cao đẹp của Phật pháp. Nếu không thì mãi mãi họ cũng vẫn chỉ là những “Phật tử thắp nhang” mà thôi. Và rồi, nếu có người hỏi họ về giáo lý nhà Phật, thì họ cũng đành ú ớ, chẳng biết gì để mà trả lời. Tình trạng đó thật là đáng buồn.

May thay, hiện nay đã có nhiều Phật tử, tại cả Á Châu và Tây Phương, rất tích cực tu học Phật pháp và hành thiền, đó là những dấu hiệu tốt.

Trong cuộc đời của mỗi Phật tử, nên thọ trì Ngũ Giới, hoặc khi có dịp thì nên thọ Bát Quan Trai Giới. Làm vậy, tâm họ sẽ tăng cường sự tỉnh thức và nếp sống đạo cũng có được những thành quả tích cực.

Ngoài ra, Phật tử cư sĩ cũng có thể tham dự những buổi tĩnh tâm, hành thiền, hoặc đi nghe giảng pháp tại các chùa, hoặc các trung tâm Phật giáo vào những ngày cuối tuần, hoặc dùng một vài kỳ nghỉ phép thường niên, để tham dự các khóa tu tâm dài ngày hơn.

Nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng và hoằng truyền giáo pháp của đức Đại Bi Thế Tôn nằm trong tay tất cả bốn chúng, gồm có chư Tăng, chư Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Nếu nhận ra được chân giá trị của Phật pháp, và mong ước giáo pháp được dàn trải khắp nơi, thì tất cả chúng ta phải nhận lãnh trách nhiệm, phải siêng năng học lý thuyết cho thấu triệt, và tinh tấn thực hành những điều đã học được, tùy theo khả năng của chúng ta.

Hỏi:

- Xin cho biết về sự liên hệ giữa chư Tăng Ni và các cư sĩ Phật giáo?

Ni Sư Thubten Chodron đáp:

- Như đức Phật đã quy định, bổn phận của chư Tăng, Ni, là giữ gìn trọn vẹn giới luật đã nguyện hứa, đồng thời học và thực hành Phật pháp, rồi đem sự hiểu biết đó hướng dẫn lại cho Phật tử tu hành.

Về phần giới cư sĩ Phật tử thì cung cấp những sự cần thiết cho đời sống của người tu sĩ, như nơi cư trú, y phục, thực phẩm và thuốc men. Sự phân nhiệm này có mục đích dành cho giới tu sĩ có nhiều thì giờ để chuyên tâm học hỏi và hành thiền, để họ mau tiến bộ trên đường tu tập, để rồi qua sự tiến bộ của họ, sự truyền dạy giáo pháp lại cho giới cư sĩ cũng đạt được nhiều hiệu quả. 

Mối quan hệ này đã lưu truyền trong khắp các truyền thống Phật giáo, dù khác hình thức. 

Tại các tu viện Thiền Tông ở Trung Hoa, làm lụng ngoài đồng được coi là một phần của việc tu hành, chư Tăng, Ni phải làm ruộng, học giáo lý và tu tập thiền.

Tại Thái Lan thì lại khác, vì lời hứa khi thọ giới là không cất giữ tiền bạc được thi hành triệt để, nên cư sĩ Phật tử không những chỉ cung cấp tứ sự cúng dường gồm nơi ở, y phục, thực phẩm và thuốc men, mà còn nhận lãnh luôn cả những việc lao động khác trong tu viện, để giúp chư tăng ni chuyên tâm tu hành.

Tại Châu Á, chư Tăng, Ni thường được giới cư sĩ Phật tử kính trọng và săn sóc chu đáo, vì Phật tử tại những nơi đó vốn có truyền thống tôn quý Phật pháp. Dù là vậy, tu sĩ nên tự coi mình như những người phục vụ, để không trở thành kiêu ngạo khi được Phật tử cung kính cúng dường. Nếu tu sĩ lại nổi lên tâm kiêu ngạo khi hưởng sự cung kính, thì đường tu của chính họ lại bị thoái hóa.

Tại phương Tây thì mối quan hệ giữa giới tu hành và giới cư sĩ vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng dân chủ, và ít phân chia giai cấp, vốn sẵn có trong bản chất của các xã hội Tây Phương. Như thế cũng có điều lợi, mà cũng có điều bất lợi. Thí dụ, người tu sĩ Tây Phương không luôn luôn được tu viện, hoặc nơi họ cư ngụ, cung cấp đầy đủ về mặt tài chính, cho các chi phí trong đời sống. Kết quả là có những Tăng Ni phải kiếm thêm việc làm bên ngoài, để có đủ tiền chi tiêu cho những nhu cầu cần thiết của bản thân. Có người kiếm đủ sống qua ngày, nhưng khi ốm đau, hoặc muốn đi tầm sư học đạo, hoặc tham dự những khóa thiền thất, thì họ sẽ gặp khó khăn về chuyện tiền bạc.

Hỏi: 

- Xin cho biết làm thế nào để tìm một vị thày tâm linh, và có cần thiết không?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

- Có được một, hoặc nhiều vị thày tâm linh đức độ hướng dẫn chúng ta tu tập, là một điều rất hữu ích. Trong khi kinh sách có thể cho chúng ta biết những dữ kiện, vị thày tâm linh có thể trực tiếp giải đáp những thắc mắc nổi lên trong tâm chúng ta, và chỉ dẫn chúng ta cách thức ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống. Chúng ta có thể theo học nhiều vị thày, tuy thế, có thể chỉ một trong số đó là thày chính, bậc thày mà chúng ta hoàn toàn tin cậy.

Tìm một bậc thày tâm linh có đức độ, đầy đủ đạo hạnh là bổn phận của chính mình. Chúng ta càng phải thận trọng hơn trong tình trạng thực tế tại Tây Phương ngày nay, nơi có thể gọi là “chợ tâm linh”. Không phải tất cả mọi người dạy đạo đều biết họ phải làm gì, hoặc ngay cả đến chính họ có đủ đạo đức hay không nữa. Chúng ta phải biết rõ về họ, trước khi tôn họ là thày mình.

Muốn vậy, chúng ta nên tham dự nhiều buổi giảng pháp của nhiều vị thày khác nhau, quan sát kỹ thái độ của họ, nghiên cứu nội dung và giá trị của những điều họ giảng dạy, rồi hãy quyết định trong sự thận trọng.

Hỏi:

- Khi đi tìm thày tâm linh, chúng ta cần đến những phẩm chất gì nơi họ? 

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

- Những phẩm chất của bậc thày xứng đáng là cách hành xử có đạo đức, giầu kinh nghiệm về thực hành các phương pháp tu tâm, và thấu hiểu Tánh Không. Họ phải thâm nhập kinh tạng, có thể dạy nhiều chủ đề về Phật pháp, và có mối liện hệ chặt chẽ với thày của chính họ. Động cơ đi dạy của họ phải là vì họ muốn giúp học trò thấu hiểu giáo pháp, chứ không phải vì mong được cúng dường, hoặc muốn được nổi danh. Bậc thày phải có lòng từ bi, kiên nhẫn và cố gắng giúp đệ tử của họ, dù những người này có thể đã gây ra nhiều lỗi lầm. Những bậc thày đạo hạnh chỉ giảng dạy đúng theo chánh pháp, không xuyên tạc ý nghĩa kinh Phật, để lôi cuốn đệ tử hoặc để kiếm thêm tiền cúng dường.

Hỏi:

- Thày tâm linh có thể là cư sĩ được không?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

– Thày tâm linh có thể là tu sĩ hoặc cư sĩ, cũng đều được cả. Tuy nhiên, cư sĩ thường có gia đình, trong khi tu sĩ luôn luôn là độc thân. Tìm thày tâm linh, chúng ta nên lưu tâm đến vị nào xứng đáng làm gương tốt cho chúng ta, và noi theo hành vi đạo đức của họ mà hành xử. 

Hỏi:

- Xin cho biết “hành thiền” là gì?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

- Ngày nay khi nói đến “hành thiền”, đôi khi người ta bị lẫn lộn với những sinh hoạt khác. Hành thiền không chỉ có nghĩa đơn giản là làm thư giãn thân và tâm. Cũng không có nghĩa là đắm mình trong những sự tưởng tượng như mình là người thành công với một tài sản vĩ đại, có mối quan hệ tốt đẹp, có danh vọng và được mọi người ca ngợi. Đấy chỉ là sự mơ mộng viển vông về những dính mắc vào của cải vật chất.

Hành thiền cũng không phải là ngồi xếp bằng theo kiểu kiết già, lưng thẳng tắp như mũi tên với gương mặt tỏa nét nghiêm nghị thần thánh. Hành thiền là hoạt động của tâm. Dù thân thể có dáng ngồi đúng phương pháp, tuyệt đẹp, mà tâm rong ruổi chạy theo những tư tưởng linh tinh, tham, sân, si, thì cũng không phải là đang hành thiền.

Hành thiền cũng không phải là tập trung tư tưởng, như chúng ta có thể có trạng thái này khi vẽ tranh, đọc sách, hoặc làm việc gì mà chúng ta thấy thích thú. Hành thiền cũng không phải là chỉ đơn giản nhận biết mình đang làm gì vào những lúc đặc biệt nào đó. 

Hành thiền để chuyển hóa tư tưởng và nhận thức, để tăng trưởng lòng từ bi và thích ứng với thực tại của đời sống.

Hỏi:

- Xin cho tôi biết muốn hành thiền thì phải làm gì và hành thiền có lợi ích gì?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

- Hiện nay, trong lãnh vực tu tập về tâm linh, chúng ta có rất nhiều thày dạy hành thiền. Nhưng chúng ta phải tìm hiểu kỹ, đừng hứng khởi một cách vội vã mà gia nhập ngay vào bất cứ cái gì. Phải rất thận trọng.

Có những người nghĩ rằng họ có thể sáng chế ra cách tu thiền của riêng họ, không cần phải học từ một bậc thày lão luyện. Đó là điều thiếu khôn ngoan. Muốn hành thiền, trước nhất chúng ta phải được hướng dẫn bởi một vị thày giầu kinh nghiệm, xứng đáng làm thày. 

Hành thiền tạo thói quen tốt cho tâm chúng ta, thái độ sống của chúng ta đối với cuộc đời sẽ từng bước chuyển hóa. Chúng ta sẽ giảm dần sự giận dữ và sẽ giải quyết những công việc cần phải suy nghĩ, cân nhắc, một cách sáng suốt hơn. Những sự bất mãn và căng thẳng thần kinh cũng từ từ giảm thiểu. Những kết quả này chúng ta có thể nhận ra ngay sau mỗi buổi hành thiền. Nhưng chúng ta nên có những động cơ để hành thiền cao cả và rộng lớn, hơn là chỉ vì niềm vui và hạnh phúc của riêng mình. Nếu chúng ta muốn hành thiền để giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, hoặc với mục tiêu đạt được sự triệt ngộ (triệt ngộ là giác ngộ triệt để như đức Phật), để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, thì hiển nhiên là tâm trí chúng ta sẽ thấy an lạc ngay. Và rồi chúng ta sẽ có thể đạt được những mục tiêu cao cả đó.

Giữ được thời khóa biểu hành thiền thường lệ hằng ngày, dù mỗi ngày chỉ có thể tu tập một thời gian ngắn, cũng là thói quen tốt, sẽ mang lại rất nhiều lợi ích. 

Có người nghĩ rằng: 

- “Mỗi ngày ta đều quá bận rộn với công việc ở sở làm, với gia đình ở nhà, và với những công việc giao tế ngoài xã hội, nên ta không thể hành thiền. Hãy cứ để đó, đến khi nào lớn tuổi, công việc giảm bớt rồi, ta hãy tính sau. Hành thiền là việc của các Tăng Ni, đâu phải của mình”. 

Xin đừng nghĩ vậy, quá sai rồi. Nếu hành thiền giúp ích chúng ta, thì hằng ngày chúng ta nên dành thì giờ để thực tập. Dù chúng ta không thích tọa thiền, cũng nên cố gắng dành chút thì giờ mỗi ngày để tĩnh tâm, là điều cần thiết. Mỗi ngày, chúng ta nên dành ra chút thì giờ, ngồi lặng lẽ, quán chiếu lại những việc mình làm trong ngày, và tìm coi vì lý do gì mình đã làm như thế, hoặc xem sách về giáo pháp, hoặc tụng đọc kinh Phật. Muốn được hạnh phúc, chúng ta phải sống hài hòa với mọi người, và an lạc trong bầu không khí tịch mịch, một mình.

Cần có những khoảng thời gian tĩnh lặng, nếu được vào buổi sáng, khi chưa khởi sự làm các công việc thường ngày thì tốt, nhất là trong đời sống của những xã hội văn minh tân tiến hiện nay, nơi mà con người ta thật sự là quá bận rộn.

Chúng ta luôn luôn có thì giờ để săn sóc thân thể. Thỉnh thoảng chúng ta nhịn ăn vì biết rằng cơ thể cần thiết điều đó. Thì cũng như vậy, chúng ta nên dành ra đôi chút thì giờ để săn sóc tâm trí và trái tim, bởi vì chúng quá quan trọng đối với sự nhận thức, cảm xúc và sức khỏe của chúng ta.

Tóm lại, tâm trí chứ không phải là thân xác của chúng ta, sẽ là động lực tiếp nối trong những kiếp tương lai của chúng ta, đem theo với nó là nghiệp lực, dấu ấn của những hành động mà chúng ta đã gây ra trong cuộc đời này. Hành thiền Phật giáo không phải là chúng ta làm lợi ích cho đức Phật, nhưng vì sự tiến bộ của chúng ta. Phật pháp dạy cách làm thế nào để tạo nguyên nhân của hạnh phúc. Và vì rằng tất cả chúng ta đều mong mỏi được hưởng hạnh phúc, chúng ta nên hành trì Phật pháp càng nhiều càng tốt. 

Trích Thư viện Hoa Sen

Buông Xả Hận Thù

 Hỏi:

…”… Là một cựu quân nhân trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã chiến đấu tại các chiến trường để bảo vệ nền tự do cho miền Nam Việt Nam. Khi miền Nam sụp đổ, tôi bị bắt đi tù, được gọi một cách văn hoa là đi cải tạo. Ở đó, hằng ngày ngoài chuyện làm việc cực nhọc, chúng tôi còn phải nghe những lời lăng mạ của các người quản trại, rằng chúng tôi là những kẻ phản quốc, làm tay sai cho ngoại bang. Do hiểu biết nông cạn, nên họ không hiểu được thực tế, rằng cuộc chiến của nước Việt Nam là chiến tranh ý thức hệ, giữa hai khối tự do và cộng sản. 

Được đi theo diện HO sang đây, do có điều kiện nghiên cứu kinh sách nhà Phật, đôi khi tôi lại cảm thấy thương xót cho những cai tù khi xưa, những kẻ vì ngu dốt mà tạo nghiệp ác với anh em tù nhân chúng tôi. Những lúc ấy, lòng tôi nhẹ nhõm, không còn oán hận họ nữa.

Tôi rất muốn buông xả, tha thứ cho họ, theo lời đức Phật đã dạy: “Oán chỉ nên cởi, không nên thắt”, và “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng”.  Nhưng càng gần ngày kỷ niệm miền Nam xụp đổ, thì lòng tôi lại bồn chồn uất ức, nghĩ tới biết bao nhiêu là cảnh cũ, người xưa. 

Vậy tôi có nên buông xả hay không? Muốn buông xả thì làm sao cho tôi quên được biết bao nhiêu chuyện đau lòng mà buông? …

(PVK)

Đáp:

Hằng năm, cứ vào khoảng thời gian miền Nam xụp đổ, là cuối tháng Tư dương lịch, thì không riêng gì ông Khang thấy lòng bồi hồi buồn bã, mà hầu như hết thẩy chúng ta, những người phải bỏ quê cha đất tổ ra đi để tìm tự do, đều cùng chung nỗi bồi hồi buồn bã như nhau. Mặc dầu ba chục năm đã trôi qua, thế hệ những người có nhiều kỷ niệm với miền Nam thuở xưa, vẫn thấy mọi chuyện như mới xảy ra, và vết thương lòng vẫn như là còn đang nhức nhối. 

Vậy thì liệu chúng ta có thể quên được những kỷ niệm xưa không? Và có cần phải quên không? Đấy cũng là những mối ưu tư trong đời sống, cần được tìm hiểu.

Trong đời, chúng ta có rất nhiều câu hỏi, và mỗi câu hỏi cũng lại có nhiều câu trả lời khác nhau, tùy theo môi trường sống, hoàn cảnh cá nhân, văn hóa, xã hội, vân vân… Vì thế, những câu trả lời cũng đều chỉ là những quan điểm tưong đốikhông phải là chân lý tuyệt đối, dùng chung cho tất cả mọi người.

Đạo Phật cũng trôi chảy trong dòng sống của nhân loại, cũng có nhiều câu hỏi và giải đáp khác nhau cho hành giả trên đường tu tập. Là một đạo sư, đức Phật hiểu rất thấu đáo điều này. Ngài hiểu rằng tâm mỗi chúng sinh đều có những đặc điểm riêng, do đó, những thắc mắc cũng cần có những giải đáp khác nhau, cho nên đã chỉ ra nhiều cách tu tập, để đáp ứng với nhu cầu luyện tâm của nhiều người.

Cốt tủy của đạo Phật là tu hành để giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Đây là kinh nghiệm bản thân của đức Phật, sau khi tu hành khổ hạnh qua nhiều phương pháp, một buổi sáng, khi sao Mai mọc, Ngài bừng tỉnh ngộ, nhận ra được rằng “Tất cả chúng sinh đều có Tri Kiến Phật như Ngài, chỉ vì vô minh che khuất, nếu tu tập thì sẽ bừng tỉnh, giác ngộ như Ngài”.

Đó là thông điệp của đức Phật khi giác ngộ, thành Phật. Phật có nghĩa là giác ngộ.

Từ sự giác ngộ của Ngài, đạo Phật ra đời. Mục tiêu của người tu đạo Phật là giác ngộ thành Phật để cứu độ chúng sinh như đức Phật đã tu và đã thành tựu. Thành phần này là những người xuất gia, còn được gọi là những Trưởng Tử Như Lai. Để có thể đạt được kết quả rốt ráo, các vị này thường tới những khu rừng sâu, núi cao, xa lánh hẳn chuyện đời, để thanh lọc tâm linh. Đó là các vị hành giả quyết tâm bước trên đường giác ngộ giải thoát, để có khả năng cứu độ muôn loài chúng sinh như đức Phật, ngay trong kiếp sống này. 

Đối với các vị này thì:

 “Quá khứ qua rồi  
Tương lai chưa tới  
Hãy nên tỉnh thức 
Sống trong hiện tại 
Vững chãi thảnh thơi”.

Do đó, các pháp môn họ tu đều với mục tiêu dẹp trừ vọng tưởng Tham Sân Si, buông bỏ kỷ niệm xưa, tình cảm cũ, quay lưng lại quá khứ. Quý vị này được Phật tử tôn là bậc trượng phu, đã vượt lên trên những chân lý tương đối, có tính cách quy ước của từng nhóm người, từng cộng đồng, vốn là nguyên nhân sâu xa của chiến tranh. Hành động của người tu giải thoát phải phát xuất từ tâm Đại Bi, bình đẳng, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Nếu có việc làm nào, mà động cơ là Tham Sân Si, thì người tu sĩ đó chưa giữ đúng lời nguyện khi xuất gia. Mang tâm nguyện độ sinh bước vào cửa Không, người tu sĩ trên đường tiến tới giác ngộ giải thoát, coi danh lợi và vinh hoa phú quý chỉ như đôi dép rách, thẳng tay liệng bỏ. Đấy là mục tiêu cốt tủy của con đường tu theo đạo Phật.

Nhưng không phải tất cả mọi Phật tử đều có khả năng làm được việc đó. Và cũng không phải tất cả Phật tử có lòng muốn tu tập, đều muốn tu một cách tích cực, dẹp bỏ tất cả mọi lôi cuốn của thế gian như vậy.

Cho nên ngoài giới xuất gia tu hành để giải thoát ngay trong kiếp sống này, còn có Phật tử cư sĩ tu hành tại gia. Với Phật tử cư sĩ tại gia thì lại có quy chế khác với người xuất gia. Vì cư sĩ đang sống trong đời thường, phải có bổn phận với gia đình, tổ tiên, non sông, đất nước, phải duy trì nếp sinh hoạt với cộng đồng dân tộc. Người cư sĩ tuy cũng có những tu tập tâm linh, nhưng phải giữ được sự quân bình đối với đời sống xã hội.

Mỗi xã hội lại có những quy định cho các thành viên. Thí dụ như ở Việt Nam khi xưa, thanh niên tới hạn tuổi phải đi quân dịch để bảo vệ tổ quốc, trong khi tu sĩ thì được miễn dịch, vì họ có nếp sinh hoạt khác biệt. Trước những nhiệm vụ đối với gia đình và tổ quốc như vậy, mọi con dân đều có những ràng buộc với cộng đồng, không thể tự do phóng khoáng như tu sĩ được. 

Như vậy, nếp sinh hoạt của cư sĩ đã khác với tu sĩ, cho nên sự buông xả cũng có những mức độ khác nhau.

 Khi đức Phật phát biểu về quyền sống, về sự bình đẳng, Ngài nói đến “chúng sinh”, chứ không phải chỉ nói đến “nhân loại”, lại càng không phân biệt quốc gia, dân tộc. Cuộc đời Ngài là giáo hóa để mưu cầu hạnh phúc và an lạc cho toàn thể chúng sinh. Ngay đối với tính mạng những sinh vật nhỏ nhít, như con sâu, cái kiến, Ngài cũng khuyên chư đệ tử vào mùa côn trùng sinh sản, nên giảm thiểu sự đi lại để tránh giẫm đạp lên, khiến chúng phải bỏ mạng.

Nhưng đối với chúng ta là những người dân thường, dù là Phật tử, chúng ta vẫn đang sống trong thế giới tương đối, có phải, trái, tốt, xấu, vân vân, theo quy ước của cộng đồng. Chúng ta có nhiệm vụ phải hoàn tất các bổn phận mà cộng đồng quy định, có cái nhìn phân biệt về quốc gia, dân tộc, vân vân… Trên quan điểm này, quá khứ là gia tài chung của những người cùng truyền thống, cùng kỷ niệm, có những vui, buồn, vinh, nhục chung, không thể xóa nhòa ký ức, không thể quên được.

Không thể quên, nhưng chúng ta có thể buông xả bớt những nỗi niềm đau khổ ra khỏi tâm tư, để trước nhất là cứu tâm chúng ta cho bớt nhức nhối, sau là có thể dùng những sinh lực, đáng lẽ tiêu hao trong việc gậm nhấm những cảm xúc đau đớn, chuyển qua những công việc ích lợi hơn.

Nhà Phật cho là “Tâm tạo thiên đường, Tâm tạo địa ngục”. Suốt cả cuộc đời giáo hóa chúng sinh, đức Phật chỉ dạy chuyển tâm. Đó là thông điệp ”Oán chỉ nên cởi, không nên thắt”, và “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng”. 

Đối với quá khứ, cfhúng ta không cần phải quên, mà nên ghi chép lại trong lịch sử của dân tộc, để lưu truyền cho thế hệ sau. Quá khứ cho ta những bài học của lịch sử, mà nhờ có những bài học này, người đời sau có thể rút tỉa kinh nghiệm, để từ đó, có những quyết định sáng suốt, tốt đẹp hơn. Như vậy, kỷ niệm quá khứ sẽ đem lại những chuyển hóa tích cực cho tương lai. 

Tuy nhiên, chúng ta nên phân biệt giữa ghi nhớ và căm thù. Ghi nhớ để có kinh nghiệm mà do đó, làm được những việc có ích cho đời thì tốt. Nhưng ghi nhớ để nổi lên lòng căm thù thì không đúng với lời Phật dạy. Lòng thù hận sẽ đem lại cho mình và cho người những nỗi đau khổ không bao giờ chấm dứt được. Trước nhất là lòng thù hận trói buộc mình trong những cảm xúc tiêu cực, không an lạc. Để trong tâm sự thù hận, nhãn quan sẽ bị thu hẹp. Đó là lý do nhà Phật khuyên chúng ta nên buông xả.

Lịch sử các cuộc tàn sát vì cuồng tín ghi rằng, đã nhiều lần người theo đạo Hồi tấn công đạo Phật, bằng những cuộc thảm sát đẫm máu. Điển hình như cuộc tấn công năm 1197, được mô tả như sau:

 …”… Đạo quân Hồi giáo xông xáo vào đất Phật tại Ấn Độ. Những lưỡi kiếm vung lên loang loáng, chém bay tất cả những cái đầu cạo trọc (ám chỉ đầu các tu sĩ Phật giáo). Tội ác giết người được hoàn tất chu đáo đến nỗi, khi kẻ chiến thắng muốn tìm một người có thể đọc và giải thích kinh sách nhà Phật, tại nơi cất giữ kinh của các tu viện, thì không còn tìm ra nổi, dù là chỉ một người sống sót, có khả năng đọc được sách nữa. Tất cả đã bị giết hết. Cuộc tàn sát ráo riết tới tận gốc. Do cuộc chém giết man rợ này, Hồi giáo đã nhổ tận gốc đạo Phật tại Ấn Độ”

Không riêng tại Ấn Độ, người Hồi Giáo đã tàn sát Phật tử tại nhiều vương quốc miền Trung Á vốn theo đạo Phật, thí dụ Afghanistan, nơi Phật giáo đã có một thời được phổ biến rất rộng rãi, điển hình là đã có hai pho tượng khổng lồ được xây dựng từ mấy ngàn năm nay, mà chúng ta mới được biết gần đây, khi quân Taliban phá hủy hai pho tượng này, khiến cho cả thế giới phải xúc động. Có thể nói 300 năm trước Tây lịch, dưới triều đại Asoka, Phật giáo đã vượt khỏi biên giới Ấn Ðộ, và phát triển rộng về phiá Nam, phiá Ðông và Tây Ấn Ðộ. Phía Tây Bắc, Phật giáo du nhập vào các vùng Gandhara, Pakistan và Afghanistan. Ở thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, một vùng đất rộng lớn bao gồm Bắc Ấn, Gandtara, Afghanistan cho tới thung lũng sông Tarim do hoàng đế Kaniska cai trị. Vị vua này là một tín đồ Phật giáo, dưới triều đại của ông, đã tổ chức kết tập kinh điển lần thứ IV ở Kashmir và cũng chính nhà vua đã cử những vị cao tăng đem Phật giáo đến các vương quốc như Hy Lạp, Ai Cập, Syria… Nhưng tất cả những khu vực theo Phật giáo này đã bị người Hồi giáo tàn sát, đập phá chùa chiền, tu viện, thư viện với những kho tàng văn hóa Phật giáo. Trước lưỡi kiếm tàn sát hung bạo, những người Phật tử hiền lành, hiếu hòa, bất bạo động, đã chạy tan tác đi lánh nạn tại các nước như Nepal, Trung Hoa, Tây Tạng, vân vân…

Là một nhà lãnh đạo đất nước Tây Tạng, một đất nước mà dân chúng hầu hết theo Phật giáo, hẳn đức Đạt Lai Lạt Ma biết rõ về những cuộc tàn sát đạo Phật của Hồi giáo. Thế nhưng, trong buổi hội nghị mang tên “A Gathering of Hearts Illuminating Compassion”  tại San Francisco, từ ngày 10 tháng Tư đến ngày 16 tháng Tư năm 2006, gồm có khoảng 500 nhà lãnh đạo và học giả thuộc nhiều tín ngưỡng, của khoảng 30 quốc gia trên thế giới, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu: “Ngày nay, theo ý một số người, Hồi giáo có vẻ như bị coi là hiếu chiến. Tôi cảm thấy rằng điều đó hoàn toàn không đúng. Hồi giáo, cũng như các truyền thống tôn giáo khác, cũng dạy tín đồ về sự tử tế, về lòng trắc ẩn, về sự giúp đỡ những người nghèo khổ, vân vân…”….

Ngài nói với cử tọa rằng, nhiều người đã thấy và nghe nói về những cuộc nổ bom tự sát, phần lớn xảy ra tại các nước Hồi giáo, mà không nghe nói về những người Hồi giáo đi làm việc thiện, giúp đỡ người nghèo. Ngài nói rằng tất cả mọi người đều có khuynh hướng bạo động, nếu bản thân bị mất bình tĩnh, và chúng ta không nên căn cứ vào hành động của một số người, mà phán xét cả một tôn giáo, vì “Ở đâu cũng có những kẻ phá hoại”. Ngài cũng kêu gọi cử tọa, là những nhà lãnh tụ tôn giáo và các học giả tôn giáo, cần phải làm việc tích cực hơn để tạo một thế giới sống chung hòa bình.

Những điều Ngài nói đều có cơ sở thực tế, thí dụ tổ chức Rahima Foundation của người Hồi giáo đã nhận được huy chương Human Relations Award of California’s Santa Clara County vì đã có công tặng y phục, thực phẩm và những vật dụng cần thiết cho những người kém may mắn tại Santa Clara và các vùng phụ cận từ năm 1993. Tại những vùng như Sacramento, New York, Philadelphia, Chicago, Detroit, Tampa Bay, vân vân, các bác sĩ Hồi giáo tại địa phương đã cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho những bệnh nhân không có bảo hiểm. Và qua những tổ chức như Habitat for Humanity, các thiện nguyện viên Hồi giáo đã hy sinh thời giờ và khả năng kỹ thuật của họ, để xây dựng nhà cửa cho những người vô gia cư, vân vân … 

Lời kêu gọi của Ngài được nhiều người có tấm lòng rộng mở hoan hỉ đón nhận. Nhưng cũng có một số người, ngay cả Phật tử, phản đối, cho là Ngài quá khoan hòa với Hồi giáo.

Như chúng ta đã thấy, hẳn là Ngài biết rất rõ về những nỗi thống khổ, những tai hại do Hồi giáo gây ra cho đạo Phật. Thế nhưng, là một Phật tử chân chính, Ngài không nhìn sự việc bằng cảm tính, theo kiểu vơ đũa cả nắm. Chúng ta cũng thấy rằng không phải tất cả người Hồi giáo đều xấu. Trong số những người Hồi giáo, có rất nhiều người tốt lành. Họ cũng tốt lành như chúng ta, mà lại còn đáng buồn hơn chúng ta, vì bị mọi người hiểu lầm, nên ghét lây tới họ. 

Chắc chắn Ngài không quên những đau thương mà người Hồi giáo đã đem lại cho Phật giáo trong quá  khứ, nhưng là một Phật tử sáng suốt, Ngài nhìn những kiếp người đang sống trên thế giới này bằng con mắt Tâm, con mắt thấu triệt được những đau thương khốn khổ, mà mọi người phải chịu đựng, nếu nhân loại cứ tiếp tục thù hận nhau, chiến tranh cứ liên miên xảy ra khắp thế giới.

Trong cuốn The Art of Happiness, a Handbook for Living, đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói:

…“… Sự tai hại của lòng thù hận thật là hiển nhiên, rõ ràng và trực tiếp. Thí dụ, khi trong lòng bạn nổi lên một cảm giác ghét ai đó, thì ngay lập tức, cảm giác ghét đó tràn ngập tâm trí bạn, và nó làm tan biến cảm giác an lạc trong tâm bạn ngay lập tức. Nó cũng khiến cho tâm bạn không còn sáng suốt, tỉnh thức được nữa. Ngay khi sự nổi giận và ghét bỏ xuất hiện, nó phá hủy phần tốt đẹp nhất của tâm trí, phần mà nhờ nó, bạn biết được sự đúng và sai, sẽ gây ảnh hưởng vào phản ứng của bạn ngay lúc đó và trong tương lai của bạn. Khả năng phán xét của bạn bị đình chỉ, không còn làm việc nữa. Bạn sẽ giống như người bị mất trí. Như vậy,sự giận dữ và thù ghét có khuynh hướng làm cho bạn bị mất tỉnh táo, khiến cho những khó khăn mà bạn đang gặp càng trở nên tệ hại hơn...”… 

Một trong những con đường tu tập của Phật giáo Đại Thừa là Bồ Tát Đạo. Hạnh nguyện Bồ Tát là hy sinh bản thân để cứu độ chúng sinh. Có câu hỏi đặt ra là: “Nếu tại khu rừng kia có con cọp rất dữ, đã ăn thịt nhiều người. Có một võ sĩ tu theo hạnh Bồ Tát, có khả năng giết con cọp đó. Nhưng giết cọp thì phạm vào giới sát. Vậy phải làm sao?”

Câu trả lời cho người đi trên Bồ Tát Đạo là dùng con mắt Tâm, con mắt “cứu khổ chúng sinh” để chỉ đạo. Giết cọp sẽ cứu được nhiều chúng sinh khỏi chết, hành giả Bồ Tát Hạnh sẽ rất thương xót mà đành phải xuống tay chấm dứt cuộc đời con cọp, để cứu nhiều mạng sống, và sẵn sàng chấp nhận sẽ phải trả quả báo do hành động sát sinh, dù động cơ sát sinh nảy ra do lòng từ bi của mình.

Người Phật tử tu theo đúng lời dạy của đức Phật, trước mỗi hành động phải luận coi động cơ là vì lòng từ bi, vì chúng sinh, hay vì tham sân si cho cá nhân mình. 

Cuộc đời luôn luôn đem tới cho chúng ta những câu hỏi. Chỉ có con mắt Tâm, con mắt của lòng từ bi là có thể giúp chúng ta trả lời một cách sáng suốt mà thôi.

Trích Thư viện Hoa Sen

Tự Do Tư Tưởng

Tâm trí không thể tự do khi mà nó còn bị rập khuôn hoặc điều kiện hóa. Người ta nghĩ rằng không thể để cho bạn được tự do suy nghĩ, không bị rèn luyện vào khuôn khổ, mà phải bắt tâm trí bạn vào một khuôn khổ nào đó. Ngoài ra, đối với một nền văn minh càng lâu đời, thì sức nặng của truyền thống, của thẩm quyền, của những quy tắc càng đè nặng trĩu lên tâm trí con người. 

Lấy thí dụ những chủng tộc cổ xưa như Ấn Độ bị sống gò ép vào khuôn khổ hơn những người sống tại Mỹ, nơi có nhiều tự do về đời sống xã hội và kinh tế, vì đó là một dân tộc gồm những nhà tiền phong mở đường lập quốc mới gần đây. 

Một tâm trí bị rèn vào khuôn mẫu thì không thể tự do, vì nó không thể vượt qua được cái biên giới của chính nó, vượt qua được cái hàng rào mà chính nó đã tạo dựng chung quanh nó, đó là điều hiển nhiên. Và thật là vô cùng khó khăn cho cái loại tâm trí này, để nó có thể tự giải thoát khỏi cái khuôn khổ và vượt được ra ngoài, bởi vì cái khuôn mẫu đè nặng lên nó không những từ xã hội, mà tại luôn cả tự nó ràng buộc chính nó. Bạn thích cái cung cách sống của bạn vì bạn ngại, không dám vượt qua nó. Bạn sợ những điều cha mẹ bạn, thầy linh hướng của bạn, và xã hội sẽ bình phẩm, nên bạn giúp họ tạo dựng cái hàng rào nó sẽ cầm giữ bạn lại 

Chính đây là cái nhà tù tư tưởng mà số đông chúng ta bị giam cầm, và đó là lý do cha mẹ chúng ta bảo chúng ta – và một ngày kia sẽ tới phiên chúng ta sẽ bảo con cái chúng ta – phải làm cái này hoặc không làm cái kia. 

Trong khi còn trẻ, tự do là điều vô cùng quan trọng, không phải chỉ trên bình diện ý thức, mà tận đáy lòng. Có nghĩa là bạn phải quan sát chính bạn, tỉnh giác trước những nguồn ảnh hưởng tìm cách xâm lấn vào tâm hồn bạn để chi phối bạn. Có nghĩa là đừng bao giờ chấp nhận điều gì một cách không thận trọng, mà phải luôn luôn tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng và phản đối, nếu cần. 

 J. Krishnamurti – Life Ahead 

Người dịch: Danny Việt (ĐPK)

Đến với Thượng Đế

Hỏi : 

- Cách nào dễ dàng nhất để tìm thấy Thượng Ðế ? 

J. Krishnamurti đáp : 

- Tôi e rằng không có cách dễ dàng nào để thấy được Thượng Ðế đâu, bởi vì việc tìm Thượng Ðế là việc khó khăn, gian khổ  nhất. Thượng Ðế có phải là cái mà tâm trí chúng ta tạo ra chăng? Bạn biết tâm trí chúng ta là cái gì rồi. Nó chẳng qua cũng chỉ là kết quả của thời gian, và nó có thể tạo ra bất cứ loại ảo giác nào. Nó có khả năng tạo ra tư tưởng, phóng chiếu đủ loại tưởng tượng, sáng tác đủ loại hư cấu. Nó luôn luôn bận bịu chuyện gom góp, liệng bỏ, chon lựa. Ôm trong lòng những thành kiến, hẹp hòi, nông cạn, cái tâm vọng động dựa theo ý mình mà vẽ ra hình ảnh Thượng Ðế. Nó tưởng tượng về Thượng Ðế tùy theo với sự hẹp hòi, giới hạn, nông cạn của nó. 

Vì đã có những bậc thầy, những nhà linh hướng, những “cái-gọi-là” những bậc cứu thế độ nhân đã tuyên bố rằng có Thượng Ðế, và đã mô tả Thượng Ðế theo ý họ, cho nên cái vọng tâm có thể tưởng tượng về Thượng Ðế trong tình trạng đó. 

Nhưng hình ảnh tưởng tượng đó không phải là Thượng Ðế. Thượng Ðế là cái mà chúng ta không thể tìm thấy bằng loại tâm vọng động này. Muốn tới được, thâm cảm được Thượng Ðế, trước nhất, bạn hãy tìm hiểu chính cái tâm của bạn đi đã.  

Ðó là điều rất khó khăn. Cái tâm rất là phức tạp, cho nên không phải dễ mà hiểu được nó. Nhưng lại quá dễ cho cái chuyện ngồi xuống để mơ mộng, vẽ ra nhiều hình ảnh, ảo giác trong trí, rồi cho là bạn đang rất gần gũi Thượng Ðế. 

Chính cái vọng tâm hoạt động liên tục đó có khả năng lừa dối vô tận. Cho nên, nếu muốn thật sự kinh nghiệm được điều có thể gọi là Thượng Ðế, bạn phải hoàn toàn tĩnh lặng. 

Bạn có thấy đó là điều cực kỳ khó khăn chăng? Bạn có nhận thấy ngay đến các bậc già cả, cũng không thể nào ngồi yên lặng cho nổi, họ bồn chồn, hết ngọ nguậy ngón chân lại đến động đậy bàn tay, ra sao? Ngay đến cái thân xác mà đã khó lòng ngồi yên lặng được như vậy, hỏi rằng còn khó khăn tới mức nào để mà có được cái tâm lặng lẽ, thanh tịnh? Bạn có thể học theo vài bậc đạo sư để biết cách ép cho cái tâm vọng động phải yên lặng, nhưng thực tế là nó không yên lặng. Nó vẫn hoạt động không ngừng, y như đứa nhỏ bị bắt buộc phải đứng trong góc nhà.

Thật là một đại nghệ thuật để bạn có thể khiến cho cái tâm trí bạn tĩnh lặng hoàn toàn mà không cần phải áp đặt nó. Và cũng chỉ đến khi đó, trong tình trạng đó, hoạ chăng bạn mới có được cái kinh nghiệm được gọi là hiệp thông với Thượng Ðế.

J. Krishnamurti—On God.

Người dịch: Danny Việt (ĐPK)

Yêu hay là … chưa Yêu …

Hỏi: 

Em thực sự cảm kích khi đọc những dòng tâm sự chân thành của chị đến với từng độc giả. Bản thân em cũng đang gặp chuyện khó xử chưa biết tâm sự cùng ai, thấy trong mục Tơ Lòng Vấn Vương này cũng chân thành và gần gũi quá nên em gửi tâm sự của mình. Hy vọng sẽ nhận được những lời khuyên bổ ích từ chị.

 Em năm nay 26 tuổi, đã tốt nghiệp đại học và có việc làm, lương bổng ổn định. Cách đây 1 năm, em quen anh ấy và chúng em trở thành bạn tốt của nhau. Qua một thời gian em nhận thấy tình cảm chân thành mà anh ấy dành cho. Anh tâm sự, anh có rất nhiều điều muốn nói với em nhưng không dám thổ lộ. Em biết anh mặc cảm vì bản thân anh chưa có sự nghiệp ổn định và trình độ học vấn lại kém em nhiều, thành ra anh ngại. Còn em, em cũng chỉ xem anh như một người bạn. Nhưng qua cách đối xử, em thấy ở anh có sự chín chắn của một người đàn ông từng trải trong cuộc sống, và em quý mến anh như anh trai mình, thỉnh thoảng vẫn chia xẻ với anh những khúc mắc trong cuộc sống. Có điều lúc nào thấy anh “có ý ” nhắc tới chuyện tình cảm là em lại né tránh. Anh càng nhận thấy rõ điều này và rất buồn.

 Chúng em hiện đã xa nhau một thời gian vì công việc, anh vẫn chờ đợi trái tim em rung động. Còn em, những lúc một mình, em mới thấy lòng mình trống trải và thấy mình yếu đuối, đã có lúc em nghĩ tới tình cảm của anh, nhưng hình như vẫn bị chi phối bởi lý trí. Em thấy khó xử quá! 

Xin chị hãy cho em lời khuyên, chị có đồng ý yêu một người thua mình về trình độ học vấn không? Bởi thông thường hay thấy đàn ông lấy vợ có trình độ kém mình chứ ít thấy trường hợp ngược lại.

 Cảm ơn chị rất nhiều!

T. H.  

Đáp:

 Chị xin được làm người góp ý, không dám nhận là người gửi tới em những “lời khuyên”. Xin em cùng chị đọc những góp ý này rồi suy nghĩ  coi có những điểm nào chị chưa thông suốt thì em tự mình cân nhắc thêm để tìm ra giải pháp hợp tình, hợp lý, em nhé.

 Trong câu chuyện của em, có mấy vấn đề đặt ra:

 - . . . chúng em trở thành bạn tốt của nhau . . .

- . . . anh mặc cảm vì bản thân anh chưa có sự nghiệp ổn định và trình độ học vấn lại kém em nhiều . . .

- … còn em, em cũng chỉ xem anh như một người bạn.

- . . . đã có lúc em nghĩ tới tình cảm của anh, nhưng hình như vẫn bị chi phối bởi lý trí.

- . . . chị có đồng ý yêu một người thua mình về trình độ học vấn không?

 Chị xin góp ý với câu cuối trước.

 Em à, nói về “yêu”, thì không có vấn đề phân biệt, dù là gia cảnh, tôn giáo, tuổi tác, học vấn, thậm chí có những trường hợp hai gia đình là thù địch của nhau, hai người trẻ vẫn thương yêu nhau, đôi khi phải bỏ trốn đến những nơi xa xôi để được cùng nhau chung sống.

 Nay chúng ta bàn sang vấn đề là “Có thực sự là em đã “yêu” người bạn của em chăng?”

 Chị cảm thấy có vẻ như là “chưa”, em ạ.

 Từ một năm nay, hai em quen nhau và trở thành bạn tốt của nhau, em cảm thấy anh ấy dành cho em tình cảm chân thành, nhưng về phần em, em chỉ coi anh ấy là một người bạn. Chuyện đời cứ tiếp tục trôi, thì em vẫn coi anh ấy là bạn mà thôi. Nhưng vì anh ấy muốn thổ lộ tình cảm với em, mà vì mặc cảm nên không dám, còn em thì “em thấy ở anh có sự chín chắn của một người đàn ông từng trải trong cuộc sống, và em quý mến anh như anh trai mình, thỉnh thoảng vẫn chia xẻ với anh những khúc mắc trong cuộc sống.”, chị nghĩ rằng tình cảm của em đối với anh ta chỉ là của một người em gái, muốn có người anh để tâm tình, mà thôi, chưa chắc đã là “yêu”.

 Tuy nhiên, có một sự kiện nổi lên, đó là dường như tới giai đoạn này, những ý nghĩ mơ hồ về vấn đề “yêu”, “sống chung”, đã hiện lên hơi rõ nét, cho nên hai em mới thấy xuất hiện chuyện  “anh mặc cảm vì bản thân anh chưa có sự nghiệp ổn định và trình độ học vấn lại kém em nhiều”.

 Dĩ nhiên là trình độ học vấn không nói lên nhân cách của con người. Có những người có học thức cao nhưng cư xử lại lưu manh, gian dối, dùng cái “học thức” của mình để lường gạt, tư cách còn thua người không biết chữ. Cho nên mới có sự phân biệt giữa “trí thức” và “học thức”.

 “Người trí thức” là người hành xử có tư cách và trí tuệ, biết việc gì làm được, nói được, việc gì không thể làm, không thể nói, nôm na là “ăn ở sao cho coi được”, cái “coi được” này không học được từ mớ sách vở, chữ nghĩa, mà là phải được hấp thụ một nền giáo dục có nội dung lành mạnh, trong sáng, sâu sắc của gia đình và xã hội, biết ” ăn ở sao cho phải đạo làm người”. Trong khi đó, chỉ cần mài miệt trong trường, học để có những mảnh bằng cao, là đã được gọi là “người học thức” rồi.

 Người bạn của em có thể không học thức cao, nhưng lại biết ăn ở một cách trí thức, “cho ra con người”, em ạ.

 Tuy nhiên, chị cần lưu ý em một thực tế này, là chị thấy rằng anh ta không có được niềm tự tin, tại sao vậy? Phải chăng vì anh ta cũng có phần trách nhiệm trong sự “chưa có sự nghiệp ổn định và trình độ học vấn lại kém em nhiều” chăng, thí dụ anh ta đã không cố gắng tìm cách trau giồi thêm kiến thức, nghề nghiệp, để cải thiện cuộc sống vật chất trong tương lai bằng những phương tiện hơi vất vả thí dụ như học thêm tại những lớp tối chăng … vân vân? Phải chăng anh ta đã dùng thời giờ để nuông chiều bản thân, đắm chìm vào chuyện mộng mơ, nghe nhạc, đọc tiểu thuyết, v … v … chăng?

 Em nên tự tìm hiểu. Một người có chí khí, tích cực, nhưng không có phương tiện, thí dụ phải dồn hết thời giờ để kiếm tiền nuôi gia đình, chưa có hoàn cảnh để trau giồi thêm kiến thức, khác với một người ù lì mơ mộng, chịu làm kẻ thua kém rồi mang theo mặc cảm, hận đời không hiểu mình. 

Sống suốt đời với người chồng đầy mặc cảm sẽ là một vấn đề rất gai góc, luôn luôn phải cảnh giác, vì bất cứ hành động nào của mình cũng có thể khiến cho họ vì có mặc cảm mà hiểu lầm, em à.

 Thân mến chúc em sáng suốt.

Thuần Nhã (ĐPK)