Tự Do Tư Tưởng

Tâm trí không thể tự do khi mà nó còn bị rập khuôn hoặc điều kiện hóa. Người ta nghĩ rằng không thể để cho bạn được tự do suy nghĩ, không bị rèn luyện vào khuôn khổ, mà phải bắt tâm trí bạn vào một khuôn khổ nào đó. Ngoài ra, đối với một nền văn minh càng lâu đời, thì sức nặng của truyền thống, của thẩm quyền, của những quy tắc càng đè nặng trĩu lên tâm trí con người.

Lấy thí dụ những chủng tộc cổ xưa như Ấn Độ bị sống gò ép vào khuôn khổ hơn những người sống tại Mỹ, nơi có nhiều tự do về đời sống xã hội và kinh tế, vì đó là một dân tộc gồm những nhà tiền phong mở đường lập quốc mới gần đây.

Một tâm trí bị rèn vào khuôn mẫu thì không thể tự do, vì nó không thể vượt qua được cái biên giới của chính nó, vượt qua được cái hàng rào mà chính nó đã tạo dựng chung quanh nó, đó là điều hiển nhiên. Và thật là vô cùng khó khăn cho cái loại tâm trí này, để nó có thể tự giải thoát khỏi cái khuôn khổ và vượt được ra ngoài, bởi vì cái khuôn mẫu đè nặng lên nó không những từ xã hội, mà tại luôn cả tự nó ràng buộc chính nó. Bạn thích cái cung cách sống của bạn vì bạn ngại, không dám vượt qua nó. Bạn sợ những điều cha mẹ bạn, thầy linh hướng của bạn, và xã hội sẽ bình phẩm, nên bạn giúp họ tạo dựng cái hàng rào nó sẽ cầm giữ bạn lại.

Chính đây là cái nhà tù tư tưởng mà số đông chúng ta bị giam cầm, và đó là lý do cha mẹ chúng ta và một ngày kia sẽ tới phiên chúng ta sẽ bảo con cái chúng ta phải làm cái này hoặc không làm cái kia.

Trong khi còn trẻ, tự do là điều vô cùng quan trọng, không phải chỉ trên bình diện ý thức, mà tận đáy lòng. Có nghĩa là bạn phải quan sát chính bạn, tỉnh giác trước những nguồn ảnh hưởng tìm cách xâm lấn vào tâm hồn bạn để chi phối bạn. Có nghĩa là đừng bao giờ chấp nhận điều gì một cách không thận trọng, mà phải luôn luôn tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng và phản đối, nếu cần.

J. Krishnamurti – Life Ahead
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)

Danh từ thầy chùa, thầy cúng

Một vị thính giả có câu hỏi như sau:

Thưa quý Ban Biên Tập, 
Tôi thường nghe danh từ “thầy chùa”, “thầy cúng” để chỉ các vị sư. Nay đọc sách thấy có từ “đạo sư”, thiền sư”. Vậy những chức vụ này có gì khác nhau? Nếu muốn nói đến các vị sư ở chùa thì nên dùng từ nào cho chính xác? 
Xin cảm ơn ban Biên tập, 
Ngô văn An

Thưa quý vị và đạo hữu Ngô văn An,

Trước nhất, chúng tôi xin minh xác là từ ngữ “thầy cúng” không có trong Phật giáo. Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã có trích dẫn lời dạy của hòa thượng Tịnh Không về vấn đề cúng lễ cầu siêu, xin trích lại như sau:

…“… Trong Phật pháp, nói Phật sự là giúp đỡ dậy dỗ tất cả chúng sinh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, những sự việc này đều gọi là Phật sự. Vậy còn hiện nay thì sao?

Hiện nay thì thời gian tiếp xúc với kinh điển cơ hồ ít hơn, nhìn thấy trong cửa Phật phần nhiều đều là lấy kinh sám “Phật sự siêu độ người chết”, cho rằng đây là Phật sự. Cho nên vừa nghe nói đến tiếng “Phật sự” là rất dễ sinh ra hiểu lầm. Những việc siêu độ vong linh này ở trong Phật giáo xuất hiện rất trễ …, rất trễ. Thời xưa ở Ấn Độ chẳng có. Khi Phật giáo được truyền đến Trung quốc, lúc ban đầu cũng chẳng có. …”… 

Thưa quý vị, 

Như lời HT Tịnh Không dạy, vốn chẳng có những việc như thế, nhưng vì là đạo từ bi, nhà Phật có câu “tùy duyên phương tiện hóa độ chúng sinh”, cho nên khi đạo Phật truyền tới nơi nào thì bèn dùng những phương tiện sẵn có để truyền bá giáo pháp, ngõ hầu không gây mâu thuẫn với dân chúng tại địa phương. Do đó, dù đạo Phật không chủ trương cúng bái, cầu xin, nhưng khi tới những quốc gia theo đa thần giáo thì cũng tùy thuận chúng sinh mà lễ bái cho dân chúng, rồi sẽ nhân đó mà giảng giáo lý nhà Phật, rất minh bạch rõ ràng, là nếu muốn thăng hoa cuộc đời trong thế giới hiện tượng tương đối, thì sống theo quy luật nhân quả, “không làm việc xấu ác, siêng làm việc tốt lành”. Nếu muốn giác ngộ bản thể Chân Tâm, giải thoát hoàn toàn như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì tu tập các pháp môn để “thanh tịnh tâm ý ”, như Thiền Nguyên Thủy, Thiền Đại Thừa, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông vân vân. Người dạy các pháp môn tu đó gọi là Thiền Sư, hoặc Đạo Sư, là thầy dạy đường lối tu, nói tắt là Sư, nghĩa là Thầy.

Về từ ngữ “thầy cúng”, Tự Điển Việt Nam của soạn giả Lê Ngọc Trụ giải thích là “tiếng gọi một cách mỉa mai những thầy chùa chuyên làm đám ăn tiền chứ không thiết gì đến kinh kệ, giáo lý nhà Phật”. Còn từ ngữ “thầy chùa” thì đó là tiếng bình dân. Những từ ngữ này đã không chính xác lại thiếu tính cách tôn trọng bậc tu hành, chúng ta không nên dùng để chỉ quý vị đạo sư.

Nhân đây, chúng tôi xin lược trích phần nói về Đạo Sư, trong cuốn Taming The Mind, tác giả là Ni Sư Thubten Chodron, dịch giả là thầy Thích Minh Thành.

Ni Sư Thubten Chodron là một nữ tu sĩ Phật giáo Tây Tạng, gốc người Hoa Kỳ, đã từng tu tập tại Ấn Độ và Nepal từ năm 1975. Bà đi khắp thế giới để dạy Phật pháp qua những lớp thiền quán, bằng những lời giảng dạy giáo lý và cách thực hành rõ ràng trong sáng. Cuộc đời tu hành và thuyết giảng của bà được đức Dalai Lama rất khen ngợi, rằng vì sống tại cả Tây phương và Đông phương, nơi bà tu học và giảng dạy Phật pháp, bà đã được nhiều truyền thống Phật giáo khác nhau nhiệt liệt hoan nghênh vì đã hóa giải được những sự hiểu lầm đôi khi xảy ra giữa họ. Điển hình như cuốn Taming the Mind này, mà trong đó bà chỉ cách tu tập để đạt được an lạc nội tâm do ứng dụng lời dạy của đức Phật từ bi. Ngoài cuốn Taming the Mind, bà còn viết nhiều sách như Buddhism for Beginners, Working with Anger, Open Heart, Clear Mind, vân vân. 

Ý kiến của Ni Sư Thubten Chodron về nội dung từ ngữ Đạo Sư như sau: 

…”… Một vị đạo sư đang sống có thể làm được những điều mà một quyển sách không thể làm, như: 

– trả lời các câu hỏi của chúng ta; 

– nêu gương tinh tấn trong việc hành trì theo giáo pháp bằng chính đời sống cụ thể hằng ngày; 

– khích lệ và tạo hưng phấn cho chúng ta trên con đường đạo; 

– và điều chỉnh những lệch lạc trong hành vi và trong quan niệm của chúng ta. 

Sách vở có thể làm phong phú thêm và mở rộng ra những điều gì mà chúng ta đã học từ nơi vị đạo sư nhưng những mối quan hệ tâm linh giữa chúng ta với những bậc hiền trí trên con đường đạo thì sách vở không thể thay thế được.

Khi chúng ta mới tìm hiểu Phật giáo, có lẽ chúng ta không có một vị đạo sư tâm linh riêng biệt nào. Như vậy là tốt. Chúng ta có thể học hỏi từ những vị đạo sư khác nhau và theo đó mà thực hành. Những người thích theo Phật giáo một cách tổng quát thì có lẽ không cần phải chọn lựa một vị đạo sư. Tuy nhiên sau một thời gian tinh cần tu tập thì người ta sẽ cảm thấy cần xây dựng nên mối quan hệ thầy trò với một vị đạo sư tâm linh. Nhờ vậy, người ta có thể nhận được những lời dạy bảo tâm huyết hơn.

Ngày nay có tình trạng nhiều vị xưng là đạo sư quá, mỗi vị đều có thể dạy lý thuyết này, hay lý thuyết khác, và đều có bề ngoài phô diễn tốt với mục đích được nhiều người theo. Nhưng nếu chúng ta là những người thành tâm cầu đạo, chúng ta sẽ cảm thấy không có lý thú gì trong sự phô diễn mang tính hình thức ấy. Điều mà chúng ta tìm cầu là thực chất chớ không phải phô diễn.

Có thể chúng ta phải tốn thời gian trong việc tìm kiếm và xác định vị đạo sư của mình. Khởi sự, chúng ta có thể tham gia những buổi thuyết giảng và học hỏi nơi những vị giảng sư, nhưng khoan xem vị nào là đạo sư tâm linh của mình. Việc này giúp cho chúng ta có thể xem xét những phẩm chất của những vị ấy và cũng xem xét khả năng của chúng ta trong việc thiết lập mối quan hệ. 

Không có lợi thế gì khi chúng ta chọn một vị đạo sư tâm linh chỉ vì vị này có nhiều chức tước, ngồi trên những ghế cao, mặc những bộ y trang trọng và đội những cái mũ uy nghiêm gây ấn tượng, vì những thứ đó đều có thể mua được. Chúng ta không nên dựa vào những hình thức bên ngoài mà nên tìm kiếm những phẩm tính tốt đẹp. Chúng ta cũng không nên chọn một người nào đó làm thầy, chỉ vì người ấy đã là thầy của bạn chúng ta. Chúng ta phải tự mình chọn lấy, dựa theo những phẩm chất và những tiếp xúc trực tiếp của chúng ta.

Trong Đại Thừa Lăng-già kinh, ngài Di lặc đã phác thảo ra 10 phẩm tính của một vị đạo sư tâm linh tuyệt vời. Đó là:

1. Có đạo hạnh thanh khiết. Vị đạo sư là gương sáng để chúng ta nương theo tu tập. Vì chúng ta cần phải chuyển hóa những hành vi, lời nói và tâm ý sai quấy, nên chúng ta phải khôn ngoan chọn vị thầy nào đã có tự thân chuyển hóa rồi. Vị thầy này sẽ dạy cho chúng ta cách để cải thiện bản thân và sẽ làm gương tốt cho chúng ta theo.

2. Có kinh nghiệm trong việc thiền định.

3. Có hiểu biết thâm sâu về giáo nghĩa liên quan đến trí tuệ. Ba phẩm chất đầu tiên này cho thấy rằng đây là một vị đã khéo tu tập Ba Pháp Môn dẫn đến giải thoát là Giới, Định và Trí Tuệ.

4. Có kiến thức uyên bác và nhiều kinh nghiệm tu tập hơn chúng ta.

5. Có lòng nhiệt tâm bền bỉ trong việc dạy bảo và hướng dẫn đệ tử. Nếu chúng ta chọn một vị thầy không ưa việc dạy bảo hay lười nhác trong việc hướng dẫn thì chúng ta sẽ không học được bao nhiêu.

6. Là vị đạo sư đầy đủ tư cách, có kiến thức uyên thâm về Thánh điển và chỉ dạy chúng ta những điều phù hợp với nội dung tư tưởng trong Thánh điển. Những vị nào tự sáng tác ra giáo nghĩa riêng, đi lệch hay đi quá xa những lời Phật dạy thì không thể nào chỉ cho chúng ta con đường để chứng ngộ được.

7. Có nền tảng tư tưởng chín chắn hay có thiền chứng về tánh không.

8. Có kỹ năng diễn đạt giáo pháp một cách rõ ràng và dễ hiểu.

9. Có động cơ là lòng từ ái và lòng bi mẫn vô lượng. Đây là điểm vô cùng quan trọng. Chúng ta không thể đặt niềm tin vào một người lấy việc dạy đạo để được kính trọng và lợi dưỡng. Thật là nguy hiểm khi chúng ta bị người như vậy làm cho lầm đường lạc lối; chúng ta sẽ hoang phí thời gian và rất dễ bị vương vào những hoạt động không trong sáng. Vì vậy, thật là quan trọng trong việc chọn người thầy có chí nguyện chân thật và thanh tịnh, một người thầy muốn làm lợi ích cho học trò và dẫn dắt học trò trên con đường giải thoát giác ngộ.

10. Có tính kiên nhẫn và sẵn lòng chỉ dẫn cho những người cần cầu học đạo dù họ thuộc bất cứ trình độ nào. Vì chưa phải là người hoàn hảo và còn những tâm thái nhiễu loạn như tham chấp và sân giận nên chúng ta vẫn còn phạm phải sai lầm. Chúng ta cần những vị thầy không bao giờ có ý từ bỏ học trò, những vị đạo sư có tính nhẫn nại và khoan dung cho học trò. Hơn thế nữa, chúng ta cần những vị đạo sư không thối chí khi học trò không hiểu được điều thầy muốn dạy. 
Không dễ dàng gì có thể tìm được những vị thầy có tất cả những đức tính trên. 

Trong trường hợp này thì những đức tính quan trọng nhất mà người thầy cần nên có là:

1. Có nhiều phẩm tính tốt đẹp hơn là khuyết điểm.

2. Xem trọng việc tu tập đạo hạnh để đạt được hạnh phúc trong tương lai hơn là thụ hưởng những cuộc vui trong hiện tại.

3. Có tấm lòng quan tâm đến người khác hơn là bản thân của mình.

Để biết được những phẩm chất tốt đẹp của thầy, chúng ta cần xem xét hành xử của thầy, nhận thức về Phật pháp của thầy và cách thầy chỉ dạy học trò. Không phải là sáng suốt khi hỏi một vị thầy dạy giáo lý: “Thầy đã chứng ngộ chưa?” Vì ngay cả khi đã chứng ngộ thầy cũng sẽ không cho chúng ta biết. Đức Phật cấm đệ tử tuyên bố cho công chúng biết những gì mà mình đã chứng ngộ được. Đức Phật muốn đệ tử của Ngài khiêm tốn và chân thành. Người phàm tục ngược lại muốn phô trương những thành tích của bản thân. Con người tâm linh không nên giống như vậy: mục đích của con người tâm linh là chế ngự tự ngã chớ không phải là khuếch đại nó.

Chúng ta có thể có rất nhiều thầy, nhưng chỉ có một vị là đạo sư tâm linh quan trọng nhất. Đó chính là vị mà chúng ta kính tin nhất và có thể giãi bày tất cả những gút mắc nghiêm trọng trong tâm hồn. Đó chính là bổn sư của chúng ta. Bổn sư có thể là vị đầu tiên khai tâm cho chúng ta trên con đường đạo, đã đưa chúng ta vào con đường thăng tiến tâm linh. Bổn sư cũng có khi là vị mà chúng ta cảm thấy thân thiết nhất.

Sau khi chọn được thầy rồi chúng ta nên tận tâm nghe theo những lời thuyết giảng của vị thầy đó về Chánh pháp để tu tiến trên con đường đạo.

Chúng ta nên quan tâm đến những nhu cầu trong đời sống của thầy để phục vụ và cung cấp cho thầy. Khi chúng ta nhận ra tấm lòng của thầy trong việc định hướng cho tâm thức chúng ta trên con đường đi đến hạnh phúc thì chúng ta sẽ cảm thấy sung sướng khi được giúp thầy. Vì thầy của chúng ta hành đạo để đem lại lợi lạc cho mọi người và để hoằng dương Phật pháp nên những đóng góp của chúng ta cho thầy sẽ rất là hữu ích.

Thật ra, sự cúng dường thù thắng nhất của chúng ta cho thầy là công phu tu tập theo Chánh pháp. Nếu chúng ta có tài của và vật chất, năng lực và thời gian thì chúng ta cũng có thể cúng dường. Tuy nhiên chúng ta không nên xao lãng việc tu tập vì việc tu tập mới chính là mối quan tâm hàng đầu của vị thầy tâm linh đúng nghĩa. Khi chúng ta nghe theo những lời thầy dạy và gìn giữ những giới điều mà chúng ta đã thọ lãnh thì đó chính là điều mà thầy của chúng ta cảm thấy hạnh phúc nhất so với tất cả những thứ khác.

Chúng ta xây dựng nên mối quan hệ với thầy ngõ hầu thăng tiến trí tuệ và trách nhiệm tự thân. Không phải là sáng suốt khi nghe theo lời thầy một cách mù quáng chỉ vì “người đó là thầy của tôi vì vậy tất cả những gì người đó dạy là đều đúng cả”. 

Chúng ta cũng không nên muốn được thầy ưu ái bằng những lời nói ngọt ngào nhưng không thành thật. Vị thầy tâm linh muốn cho mọi người đều được hoan hỷ, và vì vậy nếu chúng ta lấn át hay cư xử tệ bạc với người khác thì chúng ta đã làm ngược lại những lời thầy dạy. Nếu chúng ta xem trọng thầy của mình và khinh thị những người khác có nghĩa là chúng ta đã không hiểu chân nghĩa của đạo Pháp. Để đạt được ý nguyện thăng tiến trên con đường đạo chúng ta phải hành xử với thầy và với mọi người với tâm thành kính.

Mục đích của việc tìm cầu một vị thầy không phải là để làm thỏa mãn tự ngã của chúng ta mà là để diệt trừ vô minh và vị kỷ qua việc tu tập theo Chánh pháp. Khi thầy chỉ ra được những lỗi lầm mà chúng ta đã mắc phải thì chúng ta nên vui mừng. Bởi vì có quan tâm đến chúng ta đúng mức thầy mới có thể làm được như vậy. Thầy đã tin rằng chúng ta sẽ đón nhận lời khuyên bảo chớ không cảm thấy bị xúc phạm. 

Theo dòng thời gian mối quan hệ giữa chúng ta và thầy sẽ dần dần phát triển tốt đẹp. Mối quan hệ này có thể trở nên rất là quý báu vì thầy cho ta những lời dạy bảo và chỉ dẫn chân tình đầy từ bi và trí tuệ. Nhờ đó chúng ta sẽ thăng hoa được những phẩm tính tốt đẹp và có thể tẩy sạch những cấu uế của bản thân. Mối thân tình giữa chúng ta với vị đạo sư tâm linh, tức là vị thầy thật sự quan tâm đến phước lạc và thăng tiến tâm linh của chúng ta khác xa với những mối quan hệ giữa chúng ta với mọi người. Thầy của chúng ta sẽ tiếp tục giúp đỡ chúng ta, dù chúng ta có thăng trầm vinh nhục gì gì đi nữa. Điều này không có ý cho phép chúng ta hành động cẩu thả bất kể hậu quả. Điều muốn nói ở đây là chúng ta không cần phải có tâm trạng lo âu rằng thầy sẽ cắt đứt mối quan hệ với chúng ta nếu chúng ta phạm phải những sai lầm. Vị thầy tâm linh thật sự sẽ có tánh khoan dung và lòng từ ái và vì vậy chúng ta có thể tin tưởng hoàn toàn.

Khi chúng ta càng hiểu biết sâu xa về con đường đưa đến giác ngộ thì mối quan hệ thầy trò cũng càng thâm trọng vì tâm hồn của chúng ta đã có nhiều điểm tương đồng với tâm hồn của thầy. Ý chí tìm cầu giải thoát của chúng ta càng trở nên khẳng quyết và tâm xả thân bố thí cũng trở nên dũng mãnh hơn thì chúng ta cảm thấy càng gần gũi với thầy vì cả hai cùng chí hướng, cùng mục đích. Hơn nữa, chúng ta tu luyện được trí tuệ về không tánh thì chúng ta đoạn trừ được cảm giác cách biệt ta người nói chung; cảm giác cách biệt ta người có ra là do chúng ta mê lầm về tính hữu thể của hiện tồn. Khi chúng ta đạt được đạo quả giác ngộ thì sự chứng đạt của chúng ta không khác với sự chứng đạt của thầy….”…

Trên đây là định nghĩa của Ni Sư Thubten Chodron về phẩm cách của một vị Đạo Sư .

Liên Hương (ĐPK)

Nguồn: Chương trình phát thanh Thư viện Hoa Sen

.

 

Phố cũ – Saigon tôi đâu ?

.

1. Phố cũ xa lạ quá, loanh quanh đi tìm mãi. Phố cũ nay ta về, bạn xưa tóc trắng. Lối tắt qua nhà em, bâng khuâng chân ngại bước, Những gốc me trên đường, bùi ngùi cho ai nép bên mình
2 Có nhánh hoa phượng úa, bên hiên sân trường cũ, nhớ những khi mưa về, ngập trên khắp lối. Nhớ mãi trưa hè đó, công viên con đường vắng, sánh bước chân đôi mình, cầu mong xa xôi ước mơ dài.
3. Ngõ cũ đôi quảng gánh, me tôi đang ngồi bán, dưới bóng cây đa già? đàn con khôn lớn. Thấy trái tim quặn thắt, me nay đâu còn nữa? nước mắt như nhạt nhòa, người con tha phương mãi quên về.
4. Phố xá đêm về sáng, lang thang nơi đường cũ, quán cóc nghe đêm dài, quạnh hiu xa vắng. Lữ khách mơ về đến, quê hương khung trời đó, có biết bao ngậm ngùi, rồi mai đây ta cũng xa rời.
Chorus:
1- Yêu, mãi, những phút giây ngày xưa. Ta, nhớ, sân trường hôm nao, trao giòng thơ xanh, khi trường tan.
2- Quê cũ, có biết bao buồn vui. Ngơ, ngác, khung trời dĩ vãng, quê nghèo năm xưa, ta về đây?
Kết: Trăng tan, hiu hắt bên trời, yêu em thơ cũ, yêu người trăm năm.
Yêu ai, yêu biết bao đời, yêu quê hương cũ, yêu người trăm năm.
www.trankimbang.com
.

.

Chuyển Hóa Cơn Giận

 

Chúng tôi xin lược trích trong thư quý bạn đọc gửi về Thư Viện Hoa Sen tuần qua mấy câu hỏi, và sẽ lần lượt trả lời.

Câu hỏi thứ nhất như sau:

– Tôi đã cố gắng tập giữ bình tĩnh, nhưng sao khó quá. Thí dụ, đang lái xe trên đường, có người bóp còi inh ỏi để vượt, rồi khi xe chạy ngang qua, hắn còn quay lại lăng mạ vào mặt tôi. Cơn giận làm cho tôi run lên, phải phóng xe theo để mà trả đũa. Xin hỏi rằng trong trường hợp đó, dù tâm tôi có muốn yên nhưng thân tôi phát run lên rồi, làm sao mà kiềm chế được?

Theo quan điểm của nhà Phật thì, sở dĩ mỗi người trong chúng ta có tâm tính khác nhau, đời sống sướng khổ khác nhau, đều là do ảnh hưởng từ nghiệp nhân của quá khứ cộng với môi trường sống trong hiện tại, gọi là nhân và duyên. Tuy vậy, nhà Phật cho là nhân và duyên cũng như tất cả mọi sự việc trong thế giới tương đối này, đều vô thường, không cố định, có thể học tập để chuyển hóa, hoặc tu tập đạt được tâm vô ngã, tức là liễu đạo, thì như lời thiền sư Huyền Giác nói : “Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không”, nghĩa là “giác ngộ rồi, ngộ được Tánh Không rồi, thì nghiệp chướng từ xưa đến nay đều là không”. Người giác ngộ nhìn tất cả mọi sự trên thế gian đều chỉ còn là giấc mộng đêm qua, không có gì là thật nữa.

Tuy nhiên, dù chưa liễu đạo, chưa thể “nghiệp chướng bổn lai không”, nhưng mỗi người đều vẫn có thể tu tâm dưỡng tính để thay đổi dần dần hoàn cảnh sống và chuyển hóa nhân quả từ xấu trở nên tốt. Sự học tập để sửa đổi tâm tính này thì không riêng gì nhà Phật, mà các trường học của thế gian đều có thực hành trong các môn học về luân lý, đạo đức và tâm lý. Cho nên, muốn có được thói quen bình tĩnh, chúng ta cũng cần phải thực tập.

Giáo lý nhà Phật là tổng kết những kinh nghiệm thực tế mà đức Phật và các bậc hiền nhân đã kinh qua, đã thực nghiệm, viết lại để thuyết phục Phật tử dấn bước trên con đường thực tập. Giáo lý không thể thay thế sự thực tập. Các khoa học gia sáng tạo phần lý thuyết về các công trình khoa học, thí dụ cách làm cho con người có thể bước trên mặt trăng, vân vân…. Có phần lý thuyết rồi, nhưng cũng phải đem rất nhiều công sức để thực hiện chiếc phi thuyền, thí nghiệm từng chi tiết về sự sống trong không gian vân vân …, từ năm này qua năm khác, cuối cùng mới tới ngày lý thuyết thành hiện thực, loài người bước được trên mặt trăng.

Học tập phần lý thuyết suông thôi thì không thể hoàn toàn chuyển hóa được tâm. Vì thế, nhà Phật có nhiều pháp môn tu phối hợp cả tâm cùng với thân, để đạt được thành quả toàn diện.

Đạo Phật không phải là một tín ngưỡng chỉ cần có niềm tin xuông, lại càng không phải là một tôn giáo trông cậy vào thần quyền, mà là một phương pháp luyện tâm, với quan điểm “nhất thiết duy tâm tạo”, và “tâm bình thì thế giới bình”. Hiểu được lý thuyết rồi thì phải thực hành, mới có thể chuyển hóa được tâm, để đạt tới cảnh giới “tâm bình thì thế giới bình”.
Đức Phật đã dạy rằng:

“Kinh sách như là ngón tay chỉ mặt trăng, kinh sách không phải là mặt trăng”.

Kinh sách, hay những bài Phật pháp trong sách báo, hoặc phát thanh đều chỉ có nhiệm vụ trình bày mục tiêu của đạo Phật về sự tu hành để giải thoát tâm ra khỏi những ràng buộc, đau khổ, từ từng phần cho tới khi Giác Ngộ, giải thoát hoàn toàn, như đức Phật.

Từ sự giác ngộ của đức Phật và các hiền giả về “nhất thiết duy tâm tạo”, “tâm tạo thiên đường và địa ngục” và “tâm bình thì thế giới bình”, vân vân, chúng ta có được những lý thuyết về sự chuyển hóa tâm, để thay đổi hoàn cảnh, môi trường sống về mặt tinh thần, từ đó dòng nghiệp thăng hoa, tạo nhân tốt hưởng quả tốt, quan hệ nhân quả chuyển qua hướng tốt, mỗi người đều tự tu, tự hành, tự thành Phật đạo, giác ngộ giải thoát.

Trên con đường thực hành, dù chưa tới được đích cuối cùng là Toàn Giác như Phật (nghĩa là hoàn toàn giác ngộ), nhưng cứ mỗi bước thực tập thì tâm hành giả chuyển một bước. Cũng như võ sĩ tập luyện cơ thể, không phải một sớm một chiều mà đã có thân hình tuyệt mỹ hoặc sức khỏe bạt núi xẻ sông, nhưng mỗi ngày tập, là cơ thể lại khỏe thêm một chút.

Trong số các phương pháp chuyển tâm của nhà Phật, hành thiền là con đường đức Phật và các đệ tử đã thực tập, đã thành công, đã giác ngộ giải thoát và đã dậy lại cho đời sau, tại các trường thiền khắp nơi trên thế giới. Ngoại trừ mục tiêu cốt tủy là tu thiền để được giác ngộ, giải thoát, nó còn là một trong những pháp luyện tâm hữu hiệu nhất, để sống vui, sống khỏe, về cả thể xác lẫn tâm hồn

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi một bài pháp của thiền sư Soyen Shaku, trích dịch từ cuốn Zen for Americans, do học trò của ông là Daisetz Teitaro Suzuki dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

Thiền sư Soyen Shaku là viện trưởng hai thiền viện Engaka-Ji và Kencho-Ji, tỉnh Kamakura, nước Nhật. Vào cuối thế kỷ thứ 19, năm 1893, thiền sư đã đến nước Mỹ và thuyết trình về Thiền của Phật giáo trong Hội Nghị các Tôn Giáo tại Chicago. Đầu mùa Xuân năm 1905, thiền sư trở lại nước Mỹ và ở lại cho đến tháng Tư năm 1906 mới rời nước Mỹ để qua Âu Châu thuyết giảng.

Trong thời gian trên một năm trời lưu ngụ tại Mỹ, thiền sư Soyen Shaku thể theo lời mời của các bằng hữu, đã giảng rất nhiều thời pháp. Thiền sư nói bằng tiếng Nhật, được thông ngôn qua tiếng Anh, chủ yếu là giới thiệu kinh Tứ Thập Nhị Chương và đại cương về giáo lý nhà Phật, tại nhiều địa danh, thí dụ San Francisco, Los Angeles, Sacramento, Fresno, San Jose, Oakland, Washington, New York, Philadelphia, Boston và nhiều nơi khác nữa trong nước Mỹ. Kinh Tứ Thập Nhị Chương là kinh căn bản trong kho tàng kinh điển Phật giáo.

Cuối thế kỷ thứ 19 là thời gian các phương tiện truyền thông còn thô sơ, eo hẹp, sự tận tụy của ông đã đi khắp nơi để hoằng truyền Tuệ Đăng và giải tỏa những sự hiểu lầm đạo Phật của người Tây Phương tại Mỹ Châu và Âu Châu, đã làm thay đổi nhãn quan của nhiều người. Thuyết giảng tại bất cứ nơi nào, ông cũng đều được thính chúng nồng nhiệt tán thưởng.

Sau này, những bài giảng của ông được tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, người đệ tử mà cũng như ông, đã tận tụy đem đạo Phật từ Đông Phương trải dài qua Tây Phương dịch sang tiếng Anh. Cả hai thày trò đều coi Đông Phương và Tây Phương cùng là nhà của mình.

Sau đây là lời giảng của thiền sư Soyen Shaku:

… “ …Phật giáo không phải là một hệ thống siêu hình học, mà là một tôn giáo chú trọng thực hành hơn bất cứ điều gì khác. Đạo Phật dạy người hành giả tu tập để đạt được sự thể hiện tâm giác ngộ trong khi triết gia và lý thuyết gia thì chỉ phỏng đoán các sự kiện và rồi đưa ra những lời diễn dịch nào mà họ cảm thấy vừa ý hoặc đủ sức hấp dẫn để thuyết phục mọi người mà thôi.

Người ta thường lên án đạo Phật là thụ động, yếm thế, thiếu tính cách thúc đẩy như những tôn giáo khác. Và sự lạc hậu của các nước châu Á trên đà tiến nói chung của nhân loại, đôi khi bị người ta quy lỗi rằng do các nước này ảnh hưởng đạo Phật. Dầu sao, trước sự hiểu lầm sâu xa như thế, với một vài lời nói ở đây, tôi cũng không thể làm sáng tỏ vấn đề được.

Tuy nhiên, tôi có thể nói vắn tắt rằng, nếu có chút tính cách thụ động nào trong nền văn hóa Đông Phương, thì cũng chỉ là sự độ lượng, thờ ơ, lãnh đạm hoặc tự chế. Điều đó không phát nguồn từ đạo Phật mà là cá tính của người Đông Phương. Đạo Phật dạy người ta phải nỗ lực quán chiếu nội tâm trong tĩnh lặng, liên tục không ngưng nghỉ, để hóa giải vô minh và giác ngộ Chân Lý. Chúng ta đã thấy có biết bao nhiêu tấm gương đáng chiêm ngưỡng về sự minh triết được biểu lộ trong đời sống của các Phật tử.

Lịch sử đạo Phật đã chứng minh rằng, trong công cuộc truyền bá suối nguồn tư tưởng cao thượng đi khắp nơi,Phật giáo đã hoàn toàn tránh được sự tàn bạo và đổ máu. Nền đạo đức Phật giáo không phải là thụ động hoặc tiêu cực, chỉ vắng mặt các thói kiêu ngạo, hiếu chiến, tàn nhẫn, hẹp hòi và cuồng tín, trừ khi sự vắng mắt những tật xấu này, lại bị gọi là thụ động hoặc tiêu cực mà thôi.

Để trở thành Phật tử đúng nghĩa, trước nhất người ta phải giữ đạo đức để không phạm vào các Giới cấm mà đức Phật chế ra và đã được ứng dụng khắp nơi. Người Phật tử còn phải tích cực thực hành phương pháp quán chiếu nội tâm trong tĩnh lặng, để thấu triệt sự vận hành của tâm ý thức, ngõ hầu chuyển hóa nó. Đó là tu tập Thiền Định. Sự tu tập này sẽ trở thành thói quen, cho đến khi tâm trở nên thanh tịnh, Tuệ Giác bừng sáng, nhà Phật gọi là trực ngộ. Con đường tu hành của nhà Phật, gồm Giới, Định, và Tuệ, như là cái đỉnh ba chân, không thể thiếu chân nào.

Tu tập thiền quán sẽ đưa tâm vào trạng thái lặng lẽ, điều hòa tâm cho quân bằng, luyện thói quen sống tỉnh thức trong giây phút hiện tại, chú tâm vào những vấn đề đang xảy ra trong sự hồn nhiên. Hành trì thiền quán chẳng mất gì cả, mà lại đem đến cho người ta điều lợi rất lớn, là sẽ có được thói quen bình tĩnh, ôn hòa”.

Trên đây là lời dạy của thiền sư Soyen Shaku.

Trong chiều dài của lịch sử giảng dạy Phật pháp, ngoài những pháp Thiền do đức Phật đích thân trao truyền, như Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Như Lai … vân vân…, chư Tổ Sư đã sáng tác thêm những pháp môn phương tiện để phù hợp với căn cơ của chúng sinh đương thời, thí dụ Thiền Lâm Tế, Thiền Tào Động, Thiền Khán Thoại Đầu, Thiền Chỉ Quán … vân vân …. Hoặc có những pháp tu tính chất cũng như tu Thiền, nhưng dùng tên khác, thí dụ Niệm Phật Tam Muội, Niệm Phật Thật Tướng, vân vân….

Đạo Phật dạy rằng:

“Trong một cái búng tay, đã có hàng ngàn mảnh nhỏ của ý hiện lên trong tâm, liên kết nhau di chuyển rất nhanh thành một niệm tưởng, và niệm này dứt mới có niệm khác hiện ra được, không thể hai niệm cùng song song hiện lên trong tâm được. Cũng vì tâm con người ta không thể chứa hai ý chập vào nhau, cho nên mới có thể tu hành”.

Tâm con người luôn luôn có một ý nghĩ nào đó, không thể trống rỗng, cũng như cái hố dưới trời mưa, lúc nào cũng có nước. Dù là một người rất đơn thuần, tâm vẫn luôn luôn có ý niệm trôi chảy. Điều này quý thính giả có thể thí nghiệm.

Vì tâm con người ta lúc nào cũng phải có ý niệm trôi chảy, cho nên trong các môn phái chuyển tâm, có cách “dùng một niệm dẹp vạn niệm”, đó là pháp môn Niệm danh hiệu Phật. Có câu “Niệm Phật thì không niệm chúng sinh”, tâm người niệm Phật đã bị câu Phật hiệu chấn ngự, cho nên những ý tưởng linh tinh không nhào vào được, cũng như cái hố trống thì nước ùa vào, nay dùng cái gì đó để lấp lại thì nước sẽ không thể lọt vào được.

Luyện tâm cách này là một trong các pháp môn phương tiện dễ ứng dụng, bất cứ đi đứng nằm ngồi đều thực tập được, cứ “niệm Phật thì sẽ không niệm chúng sinh”, “niệm chúng sinh” là những tạp niệm tính toán tham sân si, lúc nào cũng sẵn sàng ùa vào tâm. Ngay lúc thấy tâm mình rối beng đủ thứ suy nghĩ, hãy dùng ngay câu Phật hiệu, thí dụ Nam mô A Di Đà Phật, hoặc chỉ cần A Di Đà Phật cũng đủ, để chuyển nhiều niệm linh tinh thành một câu niệm Phật, sẽ chấm dứt được cơn giận đang bốc lên do tính chất của vọng tâm là suy diễn, càng nghĩ càng tức.

Trong trường hợp vị thính giả nêu câu hỏi, ứng dụng pháp môn phương tiện này, thì sẽ chuyển hóa được cơn giận. Nếu không bị cơn giận bùng lên đi đến chỗ xảy ra xung đột, thì có thể tránh được biết bao nhiêu hậu quả gây phiền não. Điều này quý thính giả có thể thí nghiệm.

Sau đây là câu hỏi thứ hai:

– Nghe nói về buông xả, tôi rất muốn làm theo. Nhưng trong thực tế, những người làm cho tôi ghét và những lời nói làm cho tôi phát giận, luôn luôn trong ký ức, làm sao tôi quên cho nổi để mà buông xả. Vậy có cần phải quên những điều đó để buông xả không? Nếu cần thì xin quý vị chỉ cho tôi cách để quên.

Xin thưa,

Trong đời sống, chúng ta có câu “không thể quên, nhưng có thể tha thứ”. Đối với tâm lý học Phật giáo, tất cả những chuyện đã xảy ra trong cuộc đời, đều nằm trong Tàng Thức, tức là kho chứa các chủng tử làm nhân cho quả báo ở tương lai. Chủng tử là nhân, nhưng phải có duyên, là những cơ hội để chủng tử phát triển, thì nhân mới trổ ra quả được. Nếu chuyển hóa được tâm, khiến cho duyên không có cơ hội xuất hiện, thì nhân sẽ không thể sinh ra quả. Cũng như men rượu, nếu không có duyên là cơm nếp để rắc men vào, thì mãi mãi cũng chỉ là cục bột khô, không có cơ hội để nảy ra sinh vật lên men.

Ký ức con người có cách vận hành của nó tùy theo hoàn cảnh. Bất cứ một người bình thường nào, cũng nhớ nhiều chuyện trong quá khứ, dù rất xa xôi. Nhưng sự nhớ đó không phải là hoàn toàn chính xác, mà có chọn lọc. Người ta thường nhớ những hành động tốt của bản thân, và những điều xấu của người mình ghét. Nếu có ai ghi chép lại những lời kể lể của họ trong một thời gian cách nhau, thí dụ mười năm, thì sẽ thấy hai câu chuyện không còn giống y hệt, mà điều tốt về mình thì dường như tăng thêm, đồng thời điều xấu của người họ ghét, cũng tăng thêm. Tại sao vậy? Vì mỗi lần kể lể, câu chuyện được thêm mắm dậm muối cho phù hợp ý thích của bản ngã. Nhưng nếu một thời gian không nhắc đến nữa thì câu chuyện sẽ chìm xuống dần, cho đến một lúc nào đó lại có ai khơi ra.

Không có phương pháp nào dạy người ta quên. Ngay đến những người mắc bệnh Alzheimer cũng không quên tất cả, chỉ là ký ức bị lẫn lộn mà thôi.

Nhưng không cần quên mới buông xả được, mà cần hiểu và ứng dụng sự hiểu biết về vận hành của cuộc đời.

Nhà Phật quan niệm rằng tất cả mọi sự việc trong cuộc đời đều vô thường, nghĩa là đều luôn luôn thay đổi. Tâm vô thường, lúc thì nghĩ thế này, lát sau lại nghĩ khác. Thân vô thường, đang khỏe mạnh lại phát bệnh. Không có gì vĩnh viễn tồn tại, trước sau như một.

Có câu “không thể uống cùng một ngụm nước trên một dòng sông”. Ngụm nước trước và ngụm nước sau, đã khác nhau vì dòng sông luôn luôn di chuyển. Cuộc đời cũng thế, một người vừa mới là kẻ sát nhân, khi thấy xác nạn nhân đổ xuống, tia chớp của hối hận lóe lên trong tâm, khiến hắn ta sám hối, buông bỏ dao xuống mà đi tu, xả bỏ được tất cả sự vô minh từ vô lượng kiếp, giác ngộ lại được bản thể, thành Phật. Cho nên nhà Phật mới có câu “buông dao đồ tể, tu hành thành Phật”. Tội lỗi là do vô minh, do ngu si. Giác ngộ thì thành Phật. Đạo Phật là con đường của bao dung và bình đẳng. Mọi người đều bình đẳng trong sự tu hành, trong sự giác ngộ và trong sự thành Phật.

Mỗi người, không ngoại trừ ai, đều có những nỗi khổ riêng, vì vô thường là khổ. Từ vua chúa, doanh gia, tỷ phú, cho tới thứ dân bần cùng, đều khổ vì vô thường, vì có chuyện bất trắc, chuyện đau khổ có thể ập tới bất cứ lúc nào, thí dụ, yêu nhau mà bất thình lình mất nhau … vân vân, là nỗi khổ không một ai tránh thoát được.

Tất cả mọi sinh vật trên cuộc đời đều có những nỗi khổ, có những điều đáng thương xót. Nếu có thể nhìn tất cả mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời với nhãn quan đó, thì chúng ta có thể tha thứ cho người và việc mà chúng ta ghét, để mà buông xả. Buông xả là phương pháp hữu hiệu nhất để sống vui, sống khỏe, cho mình và cho mọi người.

Liên Hương
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen