Sự Sống Vĩnh Cửu

Đó là một trong những buổi sáng tuyệt diệu chưa từng thấy . Vừng dương vừa mới nhô lên, le lói giữa những hàng cây thông và cây khuynh diệp. Ánh dương chan hòa trên mặt nước một mầu vàng rực rỡ, sáng ngời – thứ ánh sáng chỉ xuất hiện trong khoảng không gian giữa núi và biển. Đó là một buổi sáng đẹp ngây ngất, bầu trời trong vắt với làn ánh sáng kỳ diệu khiến cho ta không thể chỉ chiêm ngưỡng bằng mắt mà bằng cả tấm lòng rộng mở. Và khi bạn nhìn thấy cảnh tượng ấy, bạn sẽ thấy đất và trời xích lại gần nhau và bạn sẽ cảm thấy dường như bản thân mình đã hòa tan vào với cái đẹp.

Bạn ơi, đừng bao giờ tọa thiền giữa công chúng, hoặc với người nào, hoặc đám đông nào khác. Bạn chỉ nên tọa thiền nơi vắng vẻ, trong sự tịch mịch của trời đêm, hoặc trong sự tĩnh lặng của buổi sáng sớm. Khi bạn tọa thiền nơi vắng vẻ, phải là nơi vắng vẻ. Bạn phải hoàn toàn cô đơn, không theo một hệ thống nào, một phương pháp nào, không lập đi lập lại lời nói, không theo đuổi một ý tưởng, không uốn nắn tư tưởng theo ý muốn của bạn.

Sự tĩnh lặng này sẽ tới khi tâm trí bạn đã được giải thoát khỏi sự suy nghĩ. Khi bị ảnh hưởng bởi lòng ham muốn, hoặc những điều mà trí não bạn theo đuổi, dù là trong tương lai hoặc quá khứ, bạn sẽ không có được sự tĩnh lặng. Chỉ trong sự mênh mông của hiện tại, trạng thái đơn độc này sẽ tới. Và rồi, trong sự tĩnh lặng, tất cả mọi giao tiếp đều chấm dứt, sẽ không còn có cái người luôn theo dõi với những bồn chồn, với lòng khát khao ngu ngốc cùng với những rắc rối cuộc đời của hắn.

Chỉ khi đó, trong cái tĩnh lặng của sự đơn độc, thiền định mới trở nên một điều gì đó mà chúng ta chẳng thể dùng lời nói để mô tả. Thiền định là sự sống vĩnh cửu.

J. Krishnamurti – Freedom, Love, and Action

Người dịch : Danny Việt (ĐPK) 

Sao họ hay thay đổi ?

Hỏi:

Tôi là một phụ nữ năm nay 42 tuổi, hiện đang độc thân, ly dị sau 24 năm sống trong hoả ngục gia đình. Tất cả mọi người đều nói tôi là người có học, có nhan sắc, tôi biết giữ gìn sức khoẻ, chăm sóc con người của mình, cho nên trông bề ngoài, chẳng ai có thể biết rằng tôi đã ở tuổi này. Rất nhiều thanh niên còn trẻ đã theo đuổi tôi. Nhưng vấn đề của tôi là tôi không thể nào hiểu được những người đàn ông thuộc lứa tuổi 30, 40, 50. Sao họ hay thay đổi lắm vậy? Vừa mới tán tỉnh, thân mật ngày hôm nay, ngày hôm sau gặp lại là làm mặt lạnh, làm như không quen biết bao giờ. Thế là thế nào?

Tôi có giao du với một ông vào khoảng 50 tuổi, trong vòng 8 tháng. Ông ta nói yêu tôi, không thể sống xa tôi, và bắt đầu đề cập tới hôn nhân. Vì bận rộn công việc, tôi phải xa ông chừng vài tuần, đến khi tôi gặp lại ông, ông lờ hẳn chuyện cưới xin, không hề đề cập đến chuyện này mà còn tỏ vẻ thờ ơ đối với tôi. 

Tôi lại quen biết một ông khác, ở trong lứa tuổi 40. Ông này lúc nào cũng dính với tôi như sam, làm như xa tôi thì ông chết không bằng. Lúc nào ông cũng chỉ nghĩ đến chuyện rủ tôi vào hotel hay lên giường, ngoài ra ông không nói tới chuyện gì khác nữa.

Tôi lại bắt bồ với một ông trẻ tuổi hơn tôi. Ông rủ tôi đi chơi biển với ông trong hai ngày cuối tuần. Một cuối tuần yêu đương ra rít. Thế rồi vài hôm sau gặp tôi ở phố, ông ta làm như chẳng hề quen tôi bao giờ. Tôi tiến tới chào hỏi ông thì ông ta nói xin lỗi rồi bỏ đi. Thế là làm sao?

Không có lẽ, tôi không có duyên với ai nữa hay sao? Tôi không thể nào gặp được một người yêu thương tôi thật lòng để đi nốt quãng đời còn lại?

Đáp: 

Cô viết: “ Tôi là một phụ nữ năm nay 42 tuổi, hiện đang độc thân, ly dị sau 24 năm sống trong hoả ngục gia đình’’, từ chi tiết này, tôi đóan rằng cô đã kết hôn từ năm 16 hoặc 17 tuổi và ly dị mới khỏang nhiều nhất là 2 năm, nếu cô kết hôn năm 16 tuổi, hoặc mới 1 năm nếu cô kết hôn năm 17 tuổi.

Nếu mới chỉ trong vòng 1 hoặc 2 năm mà cô đã quen biết và đặt vấn đề hôn nhân với nhiều trường hợp như vậy thì tôi e rằng chính cô cũng chưa có đủ thời gian và sự rung động để “yêu” những người đó, mà chỉ muốn “kết hôn”, có thể gọi là “kết hôn với bất cứ giá nào”.

Về phía nam giới, khi họ đã trải qua số tuổi bốn, năm chục, mà nay độc thân, thì có thể trái tim họ cũng đã từng có những thương tích với những cuộc tình trước khi gặp cô. Nay thấy cô vội vã đề cập đến “hôn nhân” thì họ bèn rút lui ngay để tránh rắc rối có thể xảy ra.

Nếu cô đã từng ”24 năm sống trong hoả ngục gia đình” thì tôi xin góp ý là với kinh nghiệm bản thân buồn thảm như thế, cô cần rất thận trọng với bước sắp tới. Nên rất thận trọng vì đây có thể là bước cuối cùng trong cuộc đời.

Thận trọng, không hấp tấp, cô hãy quen biết ai đó qua tình bạn, rồi từ từ tìm hiểu, coi người này có thể cùng mình đi hết cuộc đời chăng, họ có yêu mình và mình có yêu họ chăng.

Có câu ngạn ngữ là “Hãy cùng ăn với nhau hết một ký muối rồi hãy xét đóan con người”. Thời gian để cùng nhau ăn hết một ký muối cũng khá lâu, đủ để nhận xét đối phương. Nhưng cũng không nhất thiết phải “ăn với nhau hết một k‎ý muối” e rằng quá lâu, chỉ cần thận trọng nhận xét một thời gian ngắn hơn cũng có thể hiểu nhau, cô ạ.

Cô đã là con chim đã bị trúng tên, đã từng “24 năm sống trong hoả ngục gia đình’’, không còn nhiều thời gian và tình cảm để phung phí nữa.

Chúc cô sáng suốt và may mắn.

Thuần Nhã (ĐPK)  

 

Nói Nhỏ Với Nhau

Mỗi xã hội đều có những nguyên tắc sống mà mọi người phái tuân thủ để không bị cô lập, bị tách rời ra khỏi cộng đồng. Nguyên tắc sống này bao trùm tất cả mọi lãnh vực, từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, từ chuyện nhỏ như xỉa răng cho tới chuyện lớn như phép xử thế đối với tất cả mọi người, từ kẻ ăn xin cho tới bậc vua chúa.

Mỗi người đều có thể được giáo dục nguyên tắc sống này từ gia đình hoặc nhà trường, – nói gọn là phép lịch sự — và được coi là người có giáo dục. Tuy nhiên, đời sống bận rộn, lắm khi do hối hả đã khiến cho một số người quên mất những điều đã học.

Trong những ngày Xuân, chúng ta luôn có những tiệc tùng, hội họp, ăn uống vui đùa cùng bằng hữu thân nhân để xả hơi cho tâm hồn được thỏai mái sau một năm làm việc cực nhọc. Cho nên chúng ta nhắc nhở nhau một vài điều cần thiết trong cung cách ứng xử hằng ngày mà nhiều khi đã bị lãng quên, thiết tưởng dù dư cũng còn hơn thiếu.

Có câu “Đói ngày giỗ cha, No ba ngày Tết”, ý nói dù nhà nghèo, ngày giỗ cha cũng phải nhịn đói để nhường thực phẩm cho khách, còn ba ngày Tểt thì đi đâu cũng được gia chủ mời ăn nên lúc nào cũng được no nê. Vậy nên chúng ta hãy cùng nói nhỏ với nhau khi có dịp gặp gỡ bạn bè, người thân ăn uống để mà “ăn uống sao cho coi được “.

Thỉnh thoảng Hương có dịp xem một vài phim ngoại quốc, nhìn thấy cách ăn uống của người Tây Phương thường rất êm đềm, nhỏ nhẹ, không nghe tiếng ly tách thìa muỗng chạm vào nhau, khi nhai thì miệng luôn kín đáo và họ chỉ nói khi miệng đã trống, không còn thức ăn.

Nhưng một vài phim của nước Á Châu kia lại cho thấy hành động khá tương phản. Như trong một màn chiếu lên thấy có cái món lấy rau cuốn thịt. Một diễn viên bảo người mà họ muốn tíếp đồ ăn hãy há mồm lên tiếng a. . . a . . . a . . . . Khi mồm người kia đã há rộng, diễn viên sắm vai người bạn tốt bụng bèn nhét ngay cả một búi rau cuốn thịt vào mồm kẻ đang há to. Phim là giả tưởng, nhưng nếu phô bầy cái “văn hóa ăn” kiểu này thì ngoài đời sẽ có lắm kẻ đến chết nghẹn mất thôi!

Hoặc giả có một màn trình chiếu cái món gì giống món lẩu, nhưng lại là một nồi sôi sùng sục đề ngay giữa bàn, mọi người đều cho luôn cái muỗng riêng của mình vào chắt một muỗng đem ra húp sùm sụp khoái trá, rồi cứ thế vục muỗng vào nếm tiếp, nếm tiếp…. Ôi ! Như thế thì cả bàn tiệc chung vui lại có dịp thưởng thức chung cả đám vi khuẩn từ miệng của nhau chăng?

Vậy thì truyền thống ăn uống của người Việt Nam chúng ta khi ăn chung với nhau có như vậy không ?

Trước nhất, nói về đại gia đình Việt Nam gồm 3 thế hệ là ông bà, cha mẹ, con cái. Trong bữa ăn, cả nhà đều quây quần với nhau quanh một mâm cơm hay bàn ăn.

Khi ngồi vào bàn, chỗ ngồi danh dự sẽ dành cho ông bà, nếu không có ông bà thì là chỗ của cha mẹ. Cạnh ông bà là cha mẹ, rồi mới tới các con ngồi chung quanh. Trước khi ăn, cha mẹ mời ông bà :

- Mời thầy mẹ (hoặc có khi gọi thay con bằng đại danh từ “ông bà”) xơi cơm.

Có nơi nói là:

- Mời ba má dùng cơm … vân …vân. . .

Sau khi cha mẹ mời, tới phiên các con mời ông bà, rồi tới mời cha mẹ, rồi tới các em nhỏ mời ông bà, cha mẹ và các anh, các chị. Sau đó, bữa ăn mới bắt đầu.

Có người thắc mắc:

- Sao lại phải “mời” như thế cho nó mất thì giờ?

- Ấy nhưng chính cái đó gọi là lễ giáo đấy !

So với thởi giờ mà ông bà, cha mẹ đã dùng để làm lụng cực nhọc nuôi con thì thời giờ “nói lên lời mời” của con cháu chỉ là một khoảnh khắc rất nhỏ. Mà tuy là khoảnh khắc nhỏ, nhưng lời mời cũng lại nói lên sự kính cẩn và lòng tôn trọng các bậc trưởng thượng,cung kính với sự có mặt danh dự của bậc trưởng thượng trong gia đình.

Tục ngữ có câu “ăn có mời làm có khiến”. Ông bà cha mẹ Việt Nam tới chơi nhà con, thường không tự mở tủ lạnh lấy đồ ra ăn, mà chỉ thưởng thức đồ ăn do con cái đem ra bày lên bát đĩa khay chén đàng hoàng. Câu “miếng ăn là miếng nhục “, “miếng ăn là miểng tồi tàn” thường được thế hệ xưa khắc ghi trong tâm và truyền cho con cái phải ghi nhớ.

Cho nên, trong bữa ăn thường ngày, chỉ sau khi các con mời rồi, cha mẹ mới cầm đũa, và chỉ sau khi cha mẹ nâng bát cơm lên, con cái mới bắt đầu ăn, đó là tác phong, là thói quen của các gia đình nền nếp.

Nhân nói đến việc “mời”, xin kể một câu huyện vui do hiểu lầm.

Trong một kỳ họp mặt bạn bè, nhân ngà ngà say, ông bạn miền Nam chỉ ngay một ông Bắc Kỳ và cất giọng lè nhè:

- Mấy cha giả dối thấy bà. Đang ăn cơm ngon lành mà có người ghé chơi, bày đặt “mời anh dùng cơm”. Người nghe tưởng thật, bèn ngồi xuống tính ăn. Thế là cả nhà ngơ ngác nhìn nhau, nồi cơm trơ ra miếng cháy mà mời cái giống gì? Đúng là mời rơi, cái đồ nói dóc!

Ông bạn Bắc Kỳ cườỉ chẩy nước mắt, lấy khăn ra chùi rồi mới giải thích:

- Ối ông ơi, mấy cha nhớ lộn, “chữ tắc đánh ra chữ tộ, chữ ngộ đánh ra chữ nị” nó hại ông rồi. Bắc Kỳ chỉ “mời” những người cùng ăn thôi. Còn nếu họ đang ăn mà có ai ghé chơi thì họ chỉ nói: “Xin thất lễ… ” hoặc: “Xin vô phép . . . ” . Câu ấy có nghĩa là “tụi tôi xin lỗi quí vị để được tiếp tục ăn, quí vị cảm phiền ngồi chơi.”, chứ không có vụ “mời anh cùng ăn”.

Khi mọi người đang ăn thì không có chuyện “mời” người khác nhào vô ăn ké. Làm gì có chuyện đang ăn lại dám mời khách vào mâm cơm đang ăn giở của mình, bộ tính mời họ ăn đồ thừa à ?

Lại có thắc mắc “Sao phải nói xin thất lễ” với “xin vô phép”?

Thưa rằng “ Khách đến chơi mà không tiếp, ngồi ăn tỉnh bơ là thiếu lễ, cho nên phải xin lỗi là đúng rồi ”

Nay nói tới chuyện được mời ăn tại nhà bạn bè hay thân nhân. Theo đúng lẽ thì ta nên đến sớm chừng 5 hoặc tối đa là 10 phút, đừng sớm quá làm cho người ta phải tiếp mình, gây bận rộn cho người ta, hoặc bà chủ nhà chưa kịp trang điểm chút đỉnh, đầu tóc còn đang bơ phờ vì việc bểp núc.

Tuy nhiên cũng đừng tới muộn khiến cho cả bàn tiệc phải chờ mình. Có người cho rằng đến muộn một chút chứng tỏ mình là nhân vật quan trọng. Rất không nên, đúng giờ là một trong những phẻp lịch sự của bậc đáng kính.

Khi được chủ nhân mờỉ vào bàn tiệc, nên chờ quí vị tu sĩ, quí vị cao tuổi ngồi xuống trước rồi mình mới ngồi.

Vào bàn, nên ngồi ngay ngắn trên ghế, không ngả nghiêng, không bò ra, không chống khuỷu tay lên bàn. Trong khi ăn, nên giữ sự hòa nhã, nhẹ nhàng, không nói năng ồn ào, không nói với sang phía xa, chỉ nói khi đã nuốt hết đồ ăn trong miệng.

Nên dùng muỗng hoặc đũa chung lấy đồ ăn từ đĩa hoặc khay chung cho vào đĩa hoặc bát riêng của mình rồi mới kín đáo gắp đưa lên miệng, không há to mồm rồi nhét đồ ăn vào. Ngậm kín miệng khi nhai. Nếu ly nước có muỗng thì hãy lấy muỗng ra trước khi uống. Nếu nhấp thử thấy nước nóng thì nên để xuống chờ nguội, không thổi phù phù, không húp sụp soạp. Nếu món ăn cần phải cắt nhỏ thì chỉ cắt từng miếng, ăn xong lại cắt miếng tiểp theo, không cắt tất cả đĩa ra thành một đống. Không bỏ xương xuống mặt bàn. Không dùng đũa hay muỗng riêng của mình mà gắp hoặc múc vào đĩa hoặc tô đồ ăn chung.

Khi ăn xong, nếu cần xỉa răng thì hãy vào phòng rửa tay, tối kỵ xỉa răng trước mặt người khác, nhất là ngay trong bữa cơm.

Một điều cần nói nhỏ nhưng cũng khá quan trọng là ăn uống tại nhà bạn bè, thân nhân, nếu bàn ăn đã được bày ly, chén, bát, mình chỉ nên dùng như thế, tránh dùng giấy napkin lau lại chén, bát, đũa, muỗng của mình. Làm thế, chủ nhà sẽ buồn vì có vẻ như mình nghi nhà người ta thiếu vệ sinh, quen dùng đồ dơ dáy. Nhưng nếu ăn ở những quán như phở, bún.. vân…vân . . . thì tha hồ lau, càng lau càng sạch.

Trường hợp ăn tại các nhà hàng sang, trên bàn thay vì để giấy napkin, người ta dùng khăn ăn. Nếu vậy thì lại càng không nên lấy khăn đó mà lau bát, đũa của mình, vừa không phù hợp phép lịch sự lại vừa dơ, vì những khăn này khi giặt thường được cùng giặt chung với tất cả các loại khăn hầm bà lằng linh tinh bí hiểm, không đáng tin cậy.

Khăn ăn ở đây chỉ có nhiệm vụ lau nhẹ chút đỉnh và che cho thức ăn khỏi rơi xuống đùi, dơ quần, không phải là yếm dãi, nên xin đừng đeo lên cổ như đôi khi ta thấy có một vài vị khách trông rất đáng nể mà cổ lại cài gọn ghẽ cái khăn ăn như em bé, rất tức cười.

Ăn xong, không nên ra về ngay, mà hãy ngồi nán lại một lát để cùng nhau vài ba câu cà kê dê ngỗng rồi hãy chào từ biệt, trừ trường hơp có việc cần thiết phải đi gấp thì phải nói lời cáo lỗi.

Trước khi ra về, nên nói lời cám ơn chủ nhà một cách chân thành.

Bảo Hương (ĐPK)

 

Chuyến hải hành may mắn – Hồi ký

Khoảng 10 giờ sáng ngày 11 tháng Tư năm 1980, tôi ra khỏi nhà lần cuối. Đó là mái ấm gia đình, nơi che mưa nắng cho chúng tôi biết bao nhiêu năm trường, nơi đã cùng khóc cười với chúng tôi, chung với chúng tôi  biết bao nhiêu kỷ niệm của cuộc đời. Ở đó, chúng tôi tạo dựng ”Nhà in và nhà xuất bản Huyền Trân”, cùng với ông Nguyễn Hùng Trương, chúng tôi phát hành tuần báo Thiếu Nhi của tuổi trẻ. Vào những ngày Chủ Nhật và nghỉ lễ, căn nhà đó vang rân tiếng cười của hàng trăm độc giả, tới vui chơi, đọc sách, điều hành Tủ sách Gia đình Thiếu Nhi, đói thì chạy lên bếp lục cơm nguội chan xì dầu … ôi … biết bao nhiêu ánh mắt sáng ngời, tâm hồn trong sáng đã tỏa rực rỡ dưới mái, ngoài hè, ngoài sân của căn nhà đó.

Nước mắt lưng tròng, tôi chào từ biệt bố mẹ, trong lòng cảm thấy như đây là lời chào vĩnh biệt vì vốn được nghe kể về số phận không may của nhiều ghe đã chìm sâu vào lòng đại dương. Bố tôi đang ngồi, tôi đứng sau lưng bóp hai vai bố, thấy rung rung, có lẽ bố đang thổn thức nghĩ “biết có còn gặp lại nhau chăng?”. Vì phải giữ bí mật cho cuộc trốn chạy nên ngoài bố mẹ tôi, trong nhà không còn ai biết. Các con tôi lẻ tẻ từng người đã ra khỏi nhà như đi làm và đi học, không khác ngày thường.

Sau 9 ngày gian nguy lênh đênh trên biển, chúng tôi may mắn đã tới được bờ biển Mã Lai. Ngày 12 tháng 10, chúng tôi tới Mỹ, cả gia đình đoàn tụ tại tỉnh Portland, tiểu bang Oregon, nơi con trưởng của chúng tôi vượt thoát từ năm 1975 thuê 1 căn apartment tiện nghi cho bố cháu đã đến Mỹ trước chúng tôi mấy tháng, nay cùng chúng tôi gộp lại là đoàn tụ toàn thể gia đình.

Tháng 2 năm 1987, chúng tôi cũng bảo lãnh được bố mẹ tôi qua đoàn tụ với chúng tôi. May mà chúng tôi đã dời từ tiểu bang Oregon về miền nam California, cho nên bố mẹ tôi đã thích hợp ngay được với khí hậu ôn hòa tại đây. Bố tôi qua đời tháng 12 năm 1990, tức là được hưởng không khí tự do tại Mỹ gần 4 năm, mẹ tôi mất năm 2002, tức là mẹ tôi sống tại Mỹ 15 năm vui vẻ thoải mái với các con cháu, thưởng thức phim bộ và thỉnh thoảng giải trí với các cụ cao niên mấy trò chơi như tổ tôm và bài chược, minh mẫn với tinh thần hài hước phong phú cho tới khi mẹ tôi qua đời, hưởng thọ 97 tuổi.

Cảm ơn tất cả những ân nhân đã giúp gia đình chúng tôi tới được bờ tự do an toàn.

Cảm ơn tất cả những đất nước và con người tử tế tại các quốc gia đã cưu mang chúng tôi trong những ngày bơ vơ, rời khỏi quê hương, lang thang vô định.

Cảm ơn đất nước Hoa Kỳ đã đưa vòng tay ra ôm lấy chúng tôi, đã giúp đỡ chúng tôi những ngày đấu ngơ ngác bước vào một xứ sở lạ lẫm, nhìn ra chung quanh chỉ thấy những con người với hình dáng xa lạ, nhưng lại có những ánh mắt ấm áp, đã dìu dắt chúng tôi từng bước hội nhập vào một thế giới mới nhưng đầy ắp tình người.

Bây giờ ngồi đây gõ keyboard, tôi muốn thắp nén hương lòng, quay về quê hương xa xôi của tôi, nước mắt lưng tròng, trước nhất tôi muốn dâng lên lời cảm tạ sâu xa nhất từ đáy lòng, cảm tạ liệt vị Tiền Nhân Tổ Tiên đã hun đúc cho tôi giữ được niềm tự hào là một người Việt Nam xứng đáng với danh dự của một con người.

Sau Tiền Nhân Tổ Tiên, tôi muốn dâng lên lời cảm tạ sâu xa tới những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, dù đã qua đời hoặc còn sống, qu‎ý‎ vị đã xông pha trận mạc, hy sinh thân mạng để giữ cho đất nước Miền Nam được sống tự do hạnh phúc suốt trong mấy chục năm trường, từ 1954 cho tới 1975, trước khi Saigon sụp đổ.

Xin cảm tạ, muôn vàn cảm tạ.

Đỗ Phương Khanh

***

Cảm ơn đất nước Mã Lai và đảo Pulau Tengah 

Nơi ghe tỵ nạn của chúng tôi vào được đất liền là đảo Pulau Tengah, cảnh và người đều vô cùng đẹp và tốt lành. Dù tôi chỉ ở đó khỏang trên 5 tháng, từ 20 tháng Tư đến đầu tháng 10 năm 1980 thì mẹ con chúng tôi được đưa qua Sungai Besi chờ chuyến bay để đi Mỹ đòan tụ với gia đình, nhưng trong tâm khảm tôi chưa bao giờ quên những ngày xa xưa ấy, những ngày mà các bạn đồng cảnh ngộ đã cùng chúng tôi ngọt bùi an ủi lẫn nhau tại hòn đảo nhỏ, vọng về quê hương xa tít mù khơi, hòn đảo đó tên là Pulau Tengah thuộc nước Mã Lai Á (Malaysia).

***

Tôi xuống ghe SS56 vào ngày 11 tháng Tư, lái ghe là anh Hùng, một học trò cũ của bố xấp nhỏ nhà tôi tại “bãi đánh” gần Bà Rịa (hình như thuộc Phước Tuy). Đi được 7 ngày thì thấy Singapore, đáp vào tưởng ngon lành, ngờ đâu lính tuần duyên lái tầu tuần chạy ra nhảy xuống ghe bảo bọn tôi phải vào “Trại” ở phía bên kia. Bọn này hí hửng yên chí qua được “phía bên kia” là sẽ lên bờ, một cô vui vẻ trẻ trung còn “hồ hởi phấn khởi” cười nói:

- Tới trại mình tót ra đi nhảy.

Ai cũng vui quá, lúc đó là khỏang 6 giờ chiều. Tụi lính ròng dây chão từ tầu của họ xuống ghe mình bảo là để đi cho nhanh.

Nhưng cứ thấy đi mãi mà chưa thấy “trại”… Đương lúc cả bọn băn khoăn thì mấy tên lính Singapore nhảy xuống bảo đưa la bàn và bản đồ cho họ, xong họ cho thêm dầu vào ghe mình rồi nhảy lên tầu của họ ném thực phẩm xuống, chặt đứt dây, chỉ tay về phía nào đó bảo là phải đi Indonesia kẻo họ bắn. Rồi tầu họ bỏ chạy. Ghe tụi mình đuổi theo, họ quay lại bắn lia chia. Tài công sợ quá vội chạy dạt ra.

Qua ngày hôm sau bà con thấy la bàn và bản đồ đã mất, bọn mình thất vọng quá nhao nhao bàn quay về Thái Lan. Tôi bèn tới chỗ Hùng ngồi đề nghị:

- Hùng à, chú là học trò của Thày, tôi trông cậy vào chú. Nay chú nghĩ tình thày, đi tới thêm 1 ngày, nếu còn vô vọng thì tôi không yêu cầu gì nữa.

Hùng khẳng khái:

- Em đi với cô thêm đúng 24 tiếng, nếu không còn hy vọng thì em quay lại.

(Hùng ơi, cô hết lòng cảm ơn em, đã trên ba chục năm trường, chưa bao giờ cô quên tấm lòng của em đã vì nghĩ tới thày mà nghe theo lời cô yêu cầu. Em ở Na Uy, có khi nào đọc được những dòng này, nhớ liên lạc với thày cô em nhé).

Nhắc đến chuyện này tôi xúc động lắm, muốn khóc.

22 tiếng đồng hồ sau, vào lúc 4 giờ chiều, ghe chúng tôi gặp một ghe đánh cá người Mã Lai. Chúng tôi vẫy, họ xáp lại, một người bên ghe chúng tôi nhảy qua thảo luận, họ đòi cho họ 2 nhẫn vàng, chúng tôi vội giao ngay, họ bèn chạy ghe họ phía trước, chúng tôi theo sau. Khỏang một lúc lâu, trời gần tối, xa xa chúng tôi nhìn thấy dẫy lều màu xanh nhạt, họ chỉ chỉ ra hiệu rồi đưa tay lên cổ ý nói đó là trại tỵ nạn họ không dám giúp chúng tôi tới gần hơn, sợ lính chặt cổ.

Chúng tôi biết đã thóat chết, chắp tay vái chào họ rồi tài công cho ghe từ từ đi vào, tới gần bờ chúng tôi nhảy xuống nước lội. Trong trại cử người ra đón.

Thóat chết.

Trại đó nhỏ, gồm Bắc Đảo, Trung Đảo và Nam Đảo. Hồi cao điểm là năm 1978, do phong trào đi bán chính thức, có lúc chứa tới trên 10 ngàn người. Khi chúng tôi tới là năm 80, người ta đã đi định cư gần hết, chỉ còn khỏang 3 ngàn thôi. Tôi còn nhớ có gia đình hai bác Đào Đức Hoàng và bà ngọai là mẹ bác gái hiền lành tốt bụng, có BS Phan Hồng Huấn và 2 cô con gái rất xinh và nhiều người hiền lành tốt bụng lắm.

Vì lúc ấy đảo còn ít người nên Cao Ủy Tỵ Nan muốn các cháu bé ổn định sự học. Nhân thấy lý lịch tôi khai là giám đốc trường Mẫu Giáo ở Saigon, họ yêu cầu tôi ra mẫu bàn ghế Mẫu Giáo rồi họ sắp xếp ban thợ mộc trong đảo đóng bàn ghế cho các cháu ngồi, để tôi có thể cùng hai cô giáo tiếp tục sự học của các cháu.

Có một kỷ niệm tôi nhớ mà cứ cười hòai, số là có một em còn nhỏ xíu mà rất hay chửi thề, huấn luyện mãi không được. Một bữa tôi dọa:

- Con mà nói bậy nữa madame sẽ mách ba con.

Cậu bé cười toe:

- Ba cũng nói vậy à … hihi ..

Bác Hoàng giỏi tiếng Anh, làm Trại Trưởng, mở lớp dạy tiếng Anh mini trong lều của bác. Do sự siêng năng của gia đình bác nên tuy gọi là “lều” chứ coi cũng khá tươm tất nên mới có đủ chỗ cho chúng tôi ngồi. Bác dạy rất kỹ, luyện giọng rất nhuần nhuyễn, bắt “học trò” nhắc lại nhiều lần.

Âm giọng bác theo tiếng Anh vì hồi trước 75, ở trong nước chúng ta vỡ lòng tiếng Anh bằng mấy bộ Anglais Vivant Bleu và Beige …, nên phát âm kiểu Anh (thí dụ như giọng thái tử Charles). Bác bắt uốn lưỡi, nhấn giọng rất cẩn thận. Trong đám “học trò” bọn tôi có cả bà ngọai vì bà rất hiếu học. Một bữa bác dạy kỹ quá, đòi bà nhắc đi nhắc lại, nhấn giọng, uốn lưỡi mãi, bà giận đứng phắt lên, đi một hơi ra đường, chúng tôi sợ xanh mặt.

Bà rất hiền và tử tế. Hôm chúng tôi mới nhập trại, được phát cho một căn lều trống hốc trống huếch, vì khi người ở trước đi định cư thì những người còn lại cứ việc vào căn lều hoang “dọn dẹp”. Bà thấy mấy mẹ con tôi bơ vơ, bà thương cảm, bèn cùng các cháu đi lượm những miếng nylon, những bao bố, mảnh ván khắp nơi về vá víu căn lều cho ấm cúng.

(Bà ngọai và gia đình bác Hòang ơi, ĐPK và các con xin muôn vàn cảm tạ quý vị).

Lều của chúng tôi sát biển, chúng tôi thường lội xuống rửa chân. Có một đêm nước biển tràn lên quét luôn đám nồi niêu bếp núc của chúng tôi đi, sáng dậy thấy rải rác lền khên trên bờ biển.

Có người kể với chúng tôi là nghe đồn mấy năm trước vào lúc cao trào đi bán chính thức, Mã Lai lúc đó chưa có quy chế chấp nhận người tỵ nạn nên có một số ghe đã táp vào bờ rồi nhưng lại bị tầu tuần lôi ra, kéo nhanh quá nên chìm, chết từng mấy trăm người một. Sau đó, vào những đêm mưa gió biển động, nhiếu hồn ma hiện lên trên biển khóc than thê thảm lắm.

Nhưng ĐPK tôi và các con thì chưa ai chứng kiến những chuyện đó bao giờ.

Có lẽ tôi cần trình bày sơ qua về địa hình đảo Pulau Tengah. Theo tên gọi Bắc đảo, Trung đảo và Nam đảo thì có vẻ như là 3 đảo hoặc 3 khu vực, nhưng thực tế chỉ có nghĩa là phần phía Bắc hoặc ở giữa (Trung) hoặc phía Nam của đảo Tengah mà thôi.

Vào thời kỳ có phong trào ra đi bán chính thức thì người tỵ nạn lúc đó phần lớn là dân Chợ Lớn, gốc Hoa, vốn giầu có và là những người tiên phong vào đảo, cho nên họ được chia nơi tạm trú ngay tại Bắc đảo, là sát với cầu tầu, dân tỵ nạn từ ghe leo lên cầu là bước chân vào Bắc đảo.

Nhờ dân tỵ nạn gốc Hoa tiền bạc rủng rẻng và đôi khi cũng có những liên hệ bằng hữu với dân Mã Lai gốc Hoa bản xứ nên đời sống cũng dễ chịu, đảo Tengah cách đất liền 1 giờ rưỡi đường tàu thủy nên ghe thương lái đem sản phẩm vào bán cũng được lính gác Mã Lai du di, cho nên hoặt động nơi Bắc đảo vui vẻ tấp nập, tạm ví như khu phố Lê Lợi ở Saigon.

Trung đảo là tên gọi để chỉ khỏang cách giữa Bắc và Nam đảo chứ không có người ở. Thực tế, Trung đảo là một cái đèo nhỏ vươn lên hơi cao chia đôi Bắc và Nam đảo, đỉnh đèo vươn cao nhìn thẳng xuống lòng biển nên thỉnh thỏang có một vài cậu thanh niên ra bờ vực nhảy plongeon xuống biển. (Sau này khi chúng tôi đã rời đảo, nghe bà con sang sau kể lại rằng có một cậu trai đã nhẩy từ mỏm đèo Trung đảo, lao xuống biển chẳng may gặp đá ngầm, vỡ sọ mà qua đời).

Tuy gọi là “đèo”, nhưng chỉ lên xuống dốc sơ sơ thôi, mấy mẹ con chúng tôi thường rủ nhau ra đó leo lên đèo qua phía bên kia rồi lại leo về để tập thể thao.

Nam đảo là khu an tịnh, lều trại sơ sài vì mỗi khi có người được đi định cư thì bà con lại “cải thiện đời sống” bằng cách tiến lên thừa hưởng những tiện nghi bỏ lại. Mẹ con chúng tôi đến sau, khi trại đã gần vãn tuồng, nên được giao cho căn lều gần cuối Nam đảo, trấn thủ con đường độc đạo đi ra dãy phòng “Thủy tạ Nhẹ Khỏe” bắc chênh vênh trên biển, trống thiên trống địa.

Lều tôi có ba cô nhóc từ 14 đến 17 rất là nghịch ngợm, sáng sáng các cô bắc ghế đẩu ra điểm danh tình trạng sức khỏe của bà con Nam đảo và kiểm tra dân số đi hàng một qua lều, tay mỗi người phe phẩy mảnh giấy báo. Có hôm tôi nghe la tóang: “Mẹ ơi Chế Linh”, tôi cũng thấy “phấn khởi”, bèn quơ dép phóng ra phía trước, thì quả nhiên thấy có một đám bụi mù tràn qua, Chế Linh đi trước, theo sau là một dẫy bà con cười đùa ồn ào, mỗi người đều có mảnh giấy báo hộ thân (kể cả danh ca Chế Linh … hihi …).

Đảo Tengah rất nhỏ và đẹp nên sau khi giải tán trại, nhà nước Mã Lai sửa sang thành khu du lịch. Tôi hỏi thăm thày Gu Gồ kiếm được mấy hình

Pulau Tengah Refugee CampMalaysia

http://www.refugeecamps.net/TengahStory.html

Nói chuyện tỵ nạn mà quên một vai trò quan trọng thì thật là … tội lỗi… tội lỗi … Đó là vai trò mà tất cả dân tỵ nạn chúng ta không thể không có và không thể quên, nhân vật đó là “bông-xoa” (sponsor, người bảo lãnh), ở đảo chúng tôi không nói tiếng Anh phiền phức mà cứ gọi là “bông-xoa”.

Những người có thân nhân ở ngọai quốc thì không phải lo vì đã có thân nhân bảo lãnh. Trường hợp không có thân nhân ở ngọai quốc thì chỉ trông mong thần may mắn dun dủi, gặp được “bông-xoa đại nhân” đàng hòang mà thôi.

Tôi không biết gì nhiều về các quy chế tỵ nạn, hành chính linh tinh, chỉ buồn vui theo gương mặt những bạn láng giềng trên đảo sau những buổi bà con được Cao Ủy Tị Nạn phỏng vấn. Và tôi cứ nhớ mãi cụm từ “bông xoa lủng”. Đó là trường hợp những người đã được báo tin là có sponsor rồi , nhưng bỗng sau đó lại được tin sponsor từ chối không bảo lãnh nữa. Hòan cảnh chúng tôi lúc đó rất thất thế… chờ đợi … chờ đợi rồi chẳng may thất vọng thì … rất buồn.

Nhưng đời không bắt ai phải buồn hòai, ngòai niềm mơ ước vĩ đại là được sớm đi định cư, chúng tôi cũng có những niềm vui nho nhỏ, đó là vào mỗi Thứ Tư, chúng tôi được tầu thủy nhỏ của Cao Ủy ghé qua mang theo thư gửi tới cho chúng tôi và nhận thư của chúng tôi viết cho thân nhân để gửi giúp chúng tôi.

Lều tôi tận cuối Nam đảo nhưng loa phóng thanh vẫn vọng tới. Những ngày đó chúng tôi vui vẻ tưng bừng chờ đợi từ sáng, khỏang 2 giờ chiều thì có tiếng rọt rọet thử loa, rồi tiếng gọi tên vang lên … ui da… chúng tôi rất vui vì tuần nào cũng có thư.

Tầu đưa thư đồng thời cũng tiếp tế đồ ăn tươi cho chúng tôi. Mỗi tuần khẩu phần mỗi gia đình chúng tôi trung bình có chừng nửa con gà nhỡ nhỡ, dân Mã Lai nhiều người theo đạo Hồi không ăn thịt heo cho nên họ không phát thịt heo, chỉ có gà thôi. Chúng tôi cũng được phát mấy trái cây và mấy mớ rau.

Thịt gà thì tôi kho mặn, cũng ngon lắm. Nhưng rất vui là một bữa kia có ghe nhập trại, trên ghe có nhà công nghệ giò chả Phú Hương. Vừa mới nhập trại một tuần, ông đưa ra ý kiến: “Ai muốn ăn giò gà thì ông chế biến giúp cho”.

Thế là chúng tôi ùa nhau giao thịt cho ông làm thành giò sống để nấu canh và chiên lên thành “chả gà chiên”, ăn ngon tuyệt… Cảm ơn ông Phú Hương.

Nhân nói đến “thịt”, tôi lại nhớ cái ngày ghe chúng tôi bị tầu tuần Singapore lôi ra biển, trước khi chặt đứt dây chão từ ghe chúng tôi nối vào tầu lớn, họ ném xuống cho chúng tôi rất nhiều đồ hộp, và nói ra qu‎ý‎ vị đừng cười, họ ném xuống cả một bịch giấy cuộn để đi vệ sinh (nôm na là đi cầu), ui da, chúng tôi còn bụng dạ nào mà đi đâu cho nổi!!!

Thế rồi chỉ hai ngày sau chúng tôi vào được Mã Lai, thịt hộp còn nguyên. Khi lính tuần duyên Mã Lai xuống lục sóat, việc đầu tiên là họ ném tuốt luốt tất cả những hộp thịt xuống biển… ui da … tiếc ơi là tiếc …

Tôi lại mới nhớ ra một việc, phải cảm ơn cậu Trưởng ban Tiếp Tân tốt bụng. Khi ghe chúng tôi cập bến, cậu cùng lính tuần duyên Mã Lai nhẩy xuống đầu tiên. Chỉ sau một cái liếc, cậu nói giọng rất nhẹ:

“Bà con cất bớt vàng đi, họ sẽ thu lại để giữ giùm, nhưng cất trong mình vẫn chắc hơn”.

Thế là trong khi lính còn lục sóat kiểm tra thì mấy bà bạn đồng hội đồng thuyền của tôi đã tẩu tán không còn dấu vết.

Nếu không có cậu nhắc nhở thì vài quý bà khá giả đi trên ghe chúng tôi không biết có còn được đeo dây chuyền và lắc vàng loang lóang nữa chăng, quý bà ngây thơ hồn nhiên mà có vị còn mang cả dưa leo để đắp mặt bảo vệ da khỏi bắt nắng trên biển, chao ôi, vị nào tình cờ đọc tới đây thì cười xòa mà đừng giận tôi nhé, nhưng quả thật quý vị đã quá may mắn đấy ạ.

ĐPK

“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”

Đức Phật dạy rằng: “Tất cả các loài chúng sanh đều có Phật tánh mà vì mê mờ nên không nhận ra”. Các loài chúng sanh ở đây để chỉ các loài “hữu tình chúng sanh”, là những loài có các cơ quan cảm giác, có những phản ứng tâm lý, theo quan điểm của nhà Phật thì đó là những “Chánh Báo” của dòng sanh tử luân hồi. Còn những “vô tình chúng sanh” như cây cỏ, gỗ đá thì chỉ là những “Y Báo”, xuất hiện trong Biển Tâm mênh mông và được những “Chánh Báo” nhận biết tùy theo duyên nghiệp của họ, thí dụ người và cá không nhận biết dòng sông giống nhau, đối với cá, dòng sông là nguồn sống, là nơi sanh trưởng, là thành phố, là quốc độ, là tổ ấm, trong khi con người thì không thể ăn ngủ ở dưới sông được, nhìn thấy chiều sâu hun hút của dòng nước là đã sợ chết đuối rồi.

Phật là “Giác“, Phật tánh là Giác tánh, là “Cái Thấy Biết”, là bản thể của sự sống. Đức Phật đã giác ngộ, đã “hội nhập lại được Cái Thấy Biết” này, đã “thực chứng” được “bản thể thanh tịnh bất sanh bất diệt”. Chúng sanh thì chưa nhận ra, vẫn tưởng rằng bản thân mình, “cái tôi”, là cái vọng tâm sanh diệt với mọi suy nghĩ liên miên bất tận trong bộ óc của cái thân xác này.

Qua sự giác ngộ, đức Phật nhận ra rằng “tất cả chúng sanh đều có bản thể thanh tịnh (Phật tánh, Giác tánh) như nhau, chỉ vì không nhận ra được mà bị vô minh lôi cuốn vào vòng luân hồi sanh tử“. Cho nên đức Phật tận tụy truyền bá đạo Giải Thoát, dạy chúng sanh chấm dứt những hành vi tạo nên nghiệp ác, siêng làm những việc tạo nên nghiệp thiện, chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt, là giai đoạn tu hành trong Nhân và Thiên Thừa. Rồi sẽ tiến tới giai đoạn tu hành trong Bồ Tát Thừa và Phật Thừa là “thanh tịnh hóa tâm” để “Tâm bổn lai thanh tịnh” xuất hiện, giác ngộ hoàn toàn, như đức Phật.

Vì thế, bất cứ ở trong giai đoạn tu hành nào, một người Phật tử chân chính vẫn phải “tin sâu nhân quả”, tránh tạo nghiệp ác, không làm tổn hại, gây đau khổ cho chúng sanh.

Tuy nhiên, đôi khi vì không nhận định sâu xa, chúng ta vô tình gây nghiệp ác, làm đau đớn cho chúng sanh cũng có Phật tánh, cũng có thân nhân gia đình cha mẹ con cái, cũng biết yêu thương như mình.

Đức Đạt Lai Lạt Ma có câu truyện nói về vấn đề “Câu cá giải trí có tạo nghiệp không?” trong cuốn “Phật Giáo Truyền Thống Tây Tạng“, như sau:

…”…Nói về nghiệp sát sinh thì, nếu chúng ta giết, dù chỉ con vật nhỏ nhít nhất, cũng tạo nên một ác nghiệp. Một vài nền triết học hay trường phái tư tưởng cho rằng nếu ta giết một chúng sinh như con cá, thì đây không phải là một ác nghiệp, và sẽ không có quả báo xấu nào cả. Họ nghĩ rằng một con cá thì không có tâm, nghĩa là không cảm thọ đau khổ. Nhưng nếu suy xét một cách cẩn thận, ta có thể xác định con cá có tâm hay không .

Không cần phải nghiên cứu Pháp mới biết được một con cá có tâm hay không, mà chỉ cần quan sát ta cũng có thể hiểu được điều này . Chúng ta nên xem xét làm thế nào những người chài lưới cố bắt cá. Những ông chài đặt thực phẩm trên đầu lưỡi câu và ném lưỡi câu xuống nước. Khi một con cá trông thấy thức ăn, nó phát sinh tham ái mạnh mẽ muốn ăn miếng mồi ấy …Như thế, khi con cá nghĩ mình trông thấy một vật ăn được, là nó phải có một cái tâm. Con cá phát sinh ước muốn ăn và tiến lại gần miếng mồi phải có một cái tâm. Nếu cá không có tâm, thì nó sẽ không bao giờ đến gần miếng mồi đầu lưỡi câu, vì nó sẽ không bao giờ phát sinh ước muốn ăn miếng mồi ấy . Từ ví dụ này chúng ta có thể hiểu rằng quả thực cá cũng có tâm.

Cũng tương tự, nếu ta xem xét cái gì xảy ra khi một con cá bị bắt, ta có thể quan sát thấy nó có tâm hay không. Khi con cá mắc câu bị lôi lên khỏi mặt nước, thân thể nó chảy máu, và nó dẫy dụa cùng khắp. Lúc đó con cá vô cùng đau khổ. Do quan sát những hành vi của con cá và nỗi thống khổ của nó, ta có thể hiểu rằng cá có một cái tâm. Bởi thế, nếu ta giết một con cá, ta vẫn phải chịu ác nghiệp về sát .

Nếu ta giết bất cứ một hữu tình (sentient being) nào, nghĩa là một sinh vật có tâm thức (mind), thì ta sẽ gây ra một ác nghiệp. Thực không cần thiết phải chấp nhận giáo lý Phật về vấn đề này; mà đúng hơn ta nên nhìn tận mắt để xem những hữu tình như sâu bọ và súc vật có kinh nghiệm qua khổ đau hay không.

Nếu ta gây đau khổ cho bất cứ một chúng sinh nào, ta sẽ tạo một ác nghiệp. Bởi thế, dù một chúng sinh lớn hay nhỏ, ta đều nên tránh làm tổn thương hay giết nó.”

Không riêng gì người Phật tử chúng ta nhận thức được là con vật cũng có tâm linh, cũng có những niềm vui, nỗi buồn như người, trong câu chuyện “Bài diễn văn hay nhất thiên niên kỷ ” cũng nói lên được những tình cảm buồn vui, đau khổ, yêu thương chân thật của loài vật. Câu chuyện như sau:

“Bài diễn văn của Luật sư George Graham Vest tại một phiên tòa xét xử vụ kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên Wiliam Safire của báo The New York Times (Nữu Ước thời báo) bình chọn là hay nhất trong tất cả các diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 1,000 năm qua.

Thưa quý ngài hội thẩm,

Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hóa ra kẻ thù quay ra chống lại ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu thương hết mực rồi ra có thể là một lũ vô ơn.

Những người gần gũi thân thiết ta nhất, những người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự, có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có được, rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần đến nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại một giờ. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta sa cơ lỡ vận. Duy có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà con người có được trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù gió đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết vấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được! Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi va chạm với cuộc đời tàn bạo này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta có làm một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt, thì vẫn còn, con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận đá ta ra rìa xã hội, không bạn bè, vô gia cư thì con chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được làm kẻ bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù. Và một khi trò đời hạ màn, thần chết đến rước linh hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, khi tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ. Thì khi ấy vẫn còn bên nấm mồ ta – con chó cao thượng của ta, nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở ra cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã chết rồi!”

Để có thể Giác Ngộ lại Bản Thể Tuyệt Đối như đức Phật là một việc làm khó khăn và lâu dài. Tuy vậy, ngay khi mới bước lên con đường đi tới, chúng ta đã có được những niềm an vui nếu chúng ta nhìn muôn loài chúng sinh bằng con mắt bình đẳng, không giết hại chúng, tuân theo những điều Phật dạy trong giới răn thứ nhất là “không sát sanh”. Nếu chúng ta có thể giảm thiểu bớt những ham muốn, buông xả bớt những thói quen có thể làm cho chúng ta chìm đắm trong sự suy nghĩ bất công với muôn loài, cứu giúp chúng sanh mà không sát hại, là chúng ta đã dũng tiến trên con đường giác ngộ giải thoát.

Trong lần phát thanh kỳ trước quý thính giả và các bạn đã nghe Krishnamurti nói về mối giao cảm với muôn loài. Ngài nói:

“Dường như chẳng bao giờ chúng ta có chút cảm xúc nào hướng về muôn loài trên trái đất. Nếu như chúng ta thiết lập được mối giao hảo sâu xa bền chắc với thiên nhiên thì chúng ta đã chẳng bao giờ giết con vật để được ngon miệng, chẳng bao giờ làm tổn thương, mổ xẻ con khỉ, con chó, những con vật trong phòng thí nghiệm, đang khi nó còn sống, vì lợi ích của chúng ta. Chúng ta sẽ tìm những cách khác để điều trị vết thương, để cứu mạng chúng ta. Nhưng điều trị tâm hồn thì lại hoàn toàn khác. Sự hồi phục sẽ tới từ từ nếu chúng ta sống hài hòa với thiên nhiên, với trái cam trên cành cây, với nhánh cỏ nhú lên từ kẽ nứt xi măng, và với những ngọn đồi nằm ẩn dưới những tầng mây bao phủ.

Đây không phải nói theo tình cảm tầm phào hoặc tưởng tượng lãng mạn mà là chuyện thực tế của mối giao hảo với muôn loài đang sống, đang chuyển động trên trái đất. Người ta đã giết hàng triệu con cá voi và sẽ còn giết nữa. Tất cả những gì chúng ta lấy được từ sự tàn sát chúng thì chúng ta cũng có thể có được bằng những cách khác. Nhưng rõ ràng là chúng ta thích giết mọi loài, như con nai phóng vút qua, con linh dương kỳ diệu và con voi to kềnh. Chúng ta thích giết hại lẫn nhau. Trong lịch sử loài người trên trái đất, sự giết chóc này chưa bao giờ ngưng. Nếu chúng ta có thể, và chúng ta phải, thiết lập một mối tương quan giao hảo bền chặt thâm sâu với thiên nhiên, với cây cỏ, lùm bụi, hoa trái, với đám mây bay trên trời, từ đó, chúng ta sẽ không bao giờ còn giết người vì bất cứ lý do nào nữa.”

Qua một vài câu chuyện chúng tôi đã dẫn trên, chúng ta thấy loài vật cũng có những niềm vui và nỗi buồn, chúng cũng có giác tánh như con người. Chúng tôi mời quý vị nghe thêm câu chuyện tình của chú ngựa tên Blue trong bài viết “Am I blue ? của tác giả Alice Walker, do Vy Khanh chuyển ngữ với tựa đề là “Buồn ơi ! Ai biết chăng ai ?”

Vườn nhà chúng tôi trồng rất nhiều táo, trong số đó có một cây ngay cạnh hàng rào là con ngựa Blue gần như có thể với tới. Chúng tôi đã sớm có thói quen cho Blue ăn táo, món mà nó thích. Đôi khi nó đứng rất lặng lẽ ngay cạnh cây táo, và khi thấy một đứa trong bọn chúng tôi bước ra là nó hí, nó khịt mũi ồn ào và giậm chân xuống đất thình thịch. Dĩ nhiên điều đó có nghĩa là :”Tôi muốn ăn táo”. . .

Blue cô đơn lắm, cô đơn và buồn chán một cách kinh khủng. Tôi không lấy làm lạ về chuyện đó; hằng ngày một mình lê lết trên khu vườn rộng năm mẫu, chẳng có chuyện gì đặc biệt thích thú xảy ra. . .

Không, tôi đã bàng hoàng nhớ ra rằng người và vật có thể truyền thông tư tưởng với nhau rất bén nhậy.. 

Hồi đó là khoảng năm thứ hai chúng tôi ngụ trong căn nhà này, có một chuyện xảy ra cho cuộc đời Blue. Vào một buổi sáng, nhìn qua khung cửa sổ ra cảnh trời sương tỏa như những giải nơ trên cánh đồng cỏ, tôi thấy một con ngựa khác, mầu nâu, đang đứng phía bên kia cánh đồng cỏ của Blue. Lúc đầu chàng Blue có vẻ sợ, đã mấy ngày qua mà nó không dám lại gần con ngựa nâu.

Chúng tôi có việc phải xa nhà mất một tuần. Khi chúng tôi trở về thì Blue đã quyết định kết bạn với con nâu rồi và hai đứa lúc thì nhẩn nha thả nước kiệu, lúc thì phi nước đại, gắn bó bên nhau, và Blue không còn thường tới gần cây táo như trước nữa.

Nhưng câu chuyện không kéo dài mãi mãi. Một ngày kia, sau khi ra tỉnh trở về, tôi bước ra vườn tính cho Blue ăn vài trái táo. Nó đang đứng chờ, hoặc là tôi nghĩ thế, dù không đứng dưới cây táo. Khi tôi rung cây và nhẩy lùi về phía sau để tránh trận mưa táo rụng, con Blue không nhúc nhích. Tôi nhặt mấy trái đem lại cho nó. Nó gắng gượng cắn nửa trái. Số còn lại, nó mặc kệ cho rơi lả tả xuống đất. Tôi kinh hoảng nhìn vào đôi mắt nó — bởi vì dĩ nhiên là tôi đã nhận ra rằng con Brown, bạn tình của nó, đã đi mất rồi — tôi nhìn sững nó. Nếu tôi ra đời với thân phận kẻ nô lệ, và bạn tình của tôi bị bán hoặc bị giết, thì ánh mắt tôi cũng bi thương đến thế mà thôi.

Tôi được lũ trẻ hàng xóm cho biết là bạn tình của con Blue được “cho xáp lại với Blue”, . . . như thế chúng nó có thể giao phối và con Brown có thể thụ thai. Vì sứ mạng đã hoàn thành nên con Brown được trả về cho chủ nó, cư ngụ tại nơi khác.

Tôi hỏi:

- Nó có trở lại không?

Nhưng bọn chúng chẳng đứa nào biết.

Blue giống như người điên loạn. Đối với tôi thì Blue chính là một người điên loạn. Nó phóng nước đại một cách giận dữ, như nó đang bị cưỡi, không ngừng chạy quanh khu đồng cỏ đẹp đẽ rộng năm mẫu. Nó hí vang trời cho tới khi lạc cả giọng. Móng chân nó cào liên tục lên mặt đất. Nó vật mình vật mẩy, húc vào thân cây. Rồi nó phóng tầm mắt ra xa, xa tít mù khơi, về phía con đường đã đem bạn nó đi mất.

Từ đó, thỉnh thoảng, mỗi khi nó đến vì muốn được ăn táo, hoặc tôi mang táo đến cho nó, nó lại nhìn sững tôi. Cái nhìn sao mà tan nát cõi lòng với ánh mắt đầy đau khổ, cái nhìn sao mà “người” quá, tôi gần như phát lên tiếng cười (tôi cảm thấy quá đau buồn để còn có thể khóc được) khi nghĩ đến những con người đã không biết rằng loài vật cũng đau đớn đến tan nát cõi lòng.

Trích Thư viện Hoa Sen