Bài 5 – Niết Bàn là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị về mục đích của đạo Phật, được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

- “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà Ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

- Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

- Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

- Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

- Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế  ( Đế nghĩa là Chân Lý).

Trong đó, Chân Lý thứ tư, Đạo Đế, là con đường Niết Bàn.

Vì từ ngữ Niết Bàn thường được thế gian dùng khi có tin buồn, chúng tôi xin nhắc lại rằng đó là điều hiểu lầm rất đáng tiếc.

Niết Bàn không phải là sự chết, mà là một trạng thái tâm thức đã hoàn toàn chấm dứt những ô nhiễm do Vô Minh mà duyên theo Tham Sân Si, tạo Nghiệp, chịu khổ, bị cuốn vào dòng đời sinh tử triền miên. Chứng ngộ Niết Bàn là tâm thức chuyển sang trạng thái khác, tạm nói là an lạc và giải thoát. Trạng thái này chỉ người đã Chứng Ngộ mới biết thực tế là thế nào, có thể dùng câu “như người uống nước, nóng hay lạnh ra sao, chỉ chính người đó tự biết” để nói lên tính cách không thể trình bày ra được. Các vị đã chứng Đạo thường dùng câu “như người câm muốn kể lại chuyện xảy ra trong giấc mộng” để mô tả tâm trạng của mình, muốn nói ra mà không có cách nào, vì nếu dùng thí dụ bằng những trạng thái tâm thức ở thế gian để mô tả thì không đúng, vì tất cả đều chỉ là những sự vui buồn trong điều kiện của đời sống quy ước,  không có niềm an lạc vô biên của người đã giải thoát khỏi những ràng buộc của Tham Sân Si.

Chân Lý Thâm Diệu thứ nhất, Khổ Đế, đức Phật chỉ rõ cho chúng ta nhận ra sự thực, rồi tới Tập Đế, Ngài chỉ cho chúng ta thấy nguyên nhân, Diệt Đế, Ngài chỉ con đường cho chúng ta tận Diệt nỗi Khổ và Đạo Đế, là con đường Niết Bàn, tức là Chứng Ngộ thực tại, Phật Tánh, Giác Tánh, Buddha Nature, True Nature vân vân…, mà đức Phật đã cho biết rằng tất cả chúng ta đều có khả năng khiến cho hiển lộ y như Ngài, trong lời tuyên bố ngay khi Ngài mới bừng tỉnh, rằng:

- “Lạ thay, tất cả chúng sanh đều có Trí Huệ Như Lai, mà để bị trôi giạt trong vòng Vô Minh, đến nỗi phải chịu biết bao thống khổ!”

Trí Huệ Như Lai cũng còn được gọi là Trí Huệ Phật, là Giác Tánh, Phật Tánh. Đức Phật dạy Bốn Chân Lý Thâm Diệu để cuối cùng, do sự “Tự tịnh kỳ ý” mà Trí Huệ Phật hiển lộ.

Đạo Phật không hề chủ trương rằng công trình tu chứng của Phật tử chỉ thành tựu sau khi chết. Một hành giả chứng ngộ Niết Bàn ngay trong đời sống hiện tiền, nghĩa là trong lúc còn mang thân ngũ uẩn, thì gọi là “Hữu Dư Niết Bàn”. Lúc đã chấm dứt đời sống của cơ thể vật lý thì gọi là “Vô Dư Niết Bàn”.

Như thế, Niết Bàn không phải là chết, mà là tâm thức chuyển qua một bình diện mới.

Để quý vị có thêm tài liệu về quan điểm của nhà Phật đối với Niết Bàn, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp trích từ cuốn The Tree of Enlightenment, tác giả là tiến sĩ Peter Della Santina, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ.

Tiến sĩ Peter Della Santina sinh quán tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp cử nhân ngành tôn giáo tại Wesleyan University, tiểu bang Connecticut, và tiến sĩ Phật học tại University of Delhi, Ấn Độ.  Ông đã có một thời gian dài dạy về triết học và Phật học tại các miền Đông và Nam Á Châu. Đồng thời, ông còn tích cực tới nhiều trường đại học và các Phật Học Viện tại Âu Châu và Á Châu để diễn giảng về Phật giáo. Ông cũng viết nhiều sách luận giải đạo Phật, trong số đó có cuốn The Tree of Enlightenment dạy những điều căn bản, được rất nhiều độc giả hâm mộ.

Vốn không phải là một Phật tử theo truyền thống gia đình, nhưng từ khi khám phá ra viên kim cương Phật giáo, ông tích cực học hỏi và hành trì theo lời đức Phật dạy. Ông từng là đệ tử của ngài Sakya Trizin, thuộc truyền thống Phật giáo Tây Tạng trong 25 năm. Từ những điều hiểu biết do học và hành, ông tận tụy trình bày ra sách báo, đi diễn thuyết vân vân, để giảng giải lại cho mọi người.

Ông qua đời ngày 14 tháng 10 năm 2006, trong khi đang đứng trên bục giảng về Phật giáo Đại Thừa cho sinh viên làm luận án cao học Phật học tại trường International Buddhist College, Penang, Malaysia.

Sau  đây là luận giải của tác giả Peter Della Santina về Niết Bàn và Đạo Đế là con đường chấm dứt đau khổ, con đường Niết Bàn:

…”…Khi chúng ta nói về Niết Bàn, chúng ta gặp phải một số khó khăn trong việc diễn đạt vì bản chất xác thực của một kinh nghiệm không thể truyền đạt bằng cách nói về nó, đúng hơn là Niết Bàn phải được chứng nghiệm trực tiếp. Ðiều này rất đúng với tất cả kinh nghiệm, dù đó là kinh nghiệm về vị của muối, đường hay sô cô la hay lần đầu tiên bơi ở đại dương. Tất cả những kinh nghiệm ấy không thể diễn tả cho đúng được.

Ðể giải thích đầy đủ điểm này, thí dụ như tôi vừa tới Ðông Nam Á, và tôi được biết có một trái cây địa phương rất được ưa chuộng gọi là trái sầu riêng. Tôi có thể hỏi người dân trong vùng thường ăn và thích trái sầu riêng, nhưng làm sao họ có thể diễn tả thật đúng cho tôi hiểu, ăn trái đó giống như ăn gì? Ðơn giản là không có thể nào mô tả trung thực mùi vị của trái sầu riêng cho một người chưa bao giờ ăn trái đó.

Chúng ta cố gắng so sánh, tùy theo sự lựa chọn, hoặc phủ nhận; chẳng hạn chúng ta có thể nói rằng trái sầu riêng có chất như kem hay nó ngọt và chua, và có thể nói thêm nó cũng giống như trái mít và chưa hết nó không giống như trái táo tí nào. Nhưng vẫn không thể nào truyền đạt bản chất xác thực về điều đã kinh qua khi ăn trái sầu riêng. Chúng ta thấy mình cũng đương đầu với một vấn đề tương tự khi chúng ta cố gắng mô tả Niết Bàn.

Ðức Phật và các đạo sư Phật Giáo qua nhiều thời đại cũng dùng một phương sách tương tự để diễn tả Niết Bàn gọi là so sánh, và phủ nhận.

Ðức Phật nói rằng Niết Bàn là hạnh phúc, niềm an lạc tối thượng. Ngài nói Niết Bàn là bất tử, không có tạo tác, không hình tướng vượt ra ngoài đất nước gió lửa, mặt trời, mặt trăng, khó dò và không thể đo lường được.

Nơi đây chúng ta có thể thấy một số phương sách mà Phật Giáo dùng để miêu tả Niết Bàn, loại Niết Bàn giống như ta nếm trải trong thế giới này. Ðôi khi chúng ta đủ may mắn để nếm trải hạnh phúc to lớn kèm theo bởi niềm an lạc sâu xa trong tâm khảm, có thể tưởng tượng như chúng ta đang nếm trải một thoáng Niết Bàn.

Nhưng trái mít không thực sự giống trái sầu riêng, và Niết Bàn thực sự không giống một thứ gì trong thế giới này. Nó không giống như bất kỳ kinh nghiệm nào hàng ngày, vượt qua tất cả hình tướng và danh xưng chúng ta sử dụng để chỉ cái mà ta kinh nghiệm trên thế gian này.

Vấn đề là để hiểu Niết Bàn thực sự như thế nào, bạn phải tự mình nếm trải, giống như muốn biết trái sầu riêng như thế nào, bạn phải ăn nó. Không có một bài tiểu luận hay mô tả thi văn nào về trái sầu riêng có thể giống kinh nghiệm ăn nó.

Tương tự như vậy, chúng ta phải kinh qua việc chấm dứt khổ đau tự nơi chúng ta, đó là phương cách duy nhất để loại bỏ nguyên nhân của khổ đau – những tai họa của quyến luyến, chấp chặt, sân hận, và vô minh. Khi chúng ta loại bỏ được những nguyên nhân của khổ đau, chúng ta sẽ chứng nghiệm Niết Bàn cho chính mình.

Làm thế nào chúng ta có thể loại bỏ được những nguyên nhân của khổ đau ấy? Bằng những phương cách nào chúng ta có thể loại bỏ được những tai họa nguyên nhân của khổ đau? Ðó là con đường do Ðức Phật dạy, con đường Trung Ðạo, con đường tiết chế điều độ.

Các bạn sẽ nhớ ra rằng cuộc đời Ðức Phật trước khi giác ngộ được chia thành hai thời kỳ khác biệt. Thời gian trước khi từ bỏ trần tục của Ngài là thời gian mà Ngài vui hưởng cực kỳ xa hoa; thí dụ, những chuyện kể Ngài có ba lâu đài, mỗi lâu đài cho mỗi mùa, tràn đầy những nguồn vui không thể tưởng tượng nổi ở thời đó.

Theo sau thời gian vui hưởng này là sáu năm cực kỳ khổ hạnh và hành xác, khi ngài sống không tiện nghi căn bản của cuộc sống, màn trời chiếu đất, mặc quần áo thô sơ nhất, và nhịn ăn trong một thời gian dài. Thêm vào những sự thiếu thốn như vậy, Ngài hành hạ thân xác qua những sự tu tập như nằm ngủ trên giường gai và ngồi dưới cái nóng gay gắt như lửa của mặt trời lúc trưa hè.

Vì đã chứng nghiệm những xa hoa và thiếu thốn cực đoan này và vì đã tiến tới giới hạn của những cực đoan này, Đức Phật nhìn thấy sự phù phiếm của chúng và Ngài đã khám phá ra con đường Trung Ðạo, tránh cả nuông chiều cực đoan những dục lạc của giác quan và cực đoan hành hạ thân xác.

Nhờ có sự nhận thức bản chất của hai cực đoan này trong chính đời sống của Ngài mà Đức Phật đã có thể đi đến lý tưởng Trung Ðạo, con đường tránh cả hai cực đoan. Có nhiều giải thích đầy ý nghĩa và sâu xa về Trung Đạo, nhưng căn bản nhất là điều hòa lối sống và thái độ, đối với tất cả mọi sự vật.

Chúng ta có thể lấy thí dụ về ba sợi dây của một cây đàn để minh họa cho điều ta muốn nói về thái độ này. Ðức Phật có một người đệ tử tên là Sona tu tập thiền định rất hăng say nhưng không có kết quả gì mà lại còn gặp nhiều trở ngại. Sona bắt đầu có ý không giữ lời thệ nguyện và muốn từ bỏ đời sống của một thầy tu. Ðức Phật hiểu rõ vấn đề, liền nói với Sona rằng:

- ” Sona con, trước khi con trở thành nhà tu, con là một nhạc sĩ phải không?”

Sona trả lời :

“Thưa đúng ạ”.

Ðức Phật hỏi tiếp,

“Là một nhạc sĩ con biết cách phải làm sao cho dây đàn tạo ra âm thanh hay và du dương, dây đàn phải thật căng phải không?

Sona trả lời:

- “Thưa không, dây căng quá sẽ tạo ra âm thanh không hay và sẽ bị đứt bất cứ lúc nào “.

Ðức Phật tiếp:

- ” Dây chùng quá thì sao?

Sona trả lời :

- “ Thưa không, dây chùng quá không tạo được âm thanh hay và du dương. Dây tạo được âm thanh hay và du dương phải không căng quá và cũng không chùng quá”.

Trong trường hợp này, sống buông thả và xa hoa thì quá phóng túng bừa bãi, vô kỷ luật hay không chuyên tâm, trái lại sống hành xác thì quá khắt khe, quá khắc nghiệt và căng thẳng có thể gây ra sự suy sụp của tâm và thân xác, giống như dây đàn quá căng có thể đứt bất cứ lúc nào.

Ðặc biệt hơn nữa, con đường đi tới mục tiêu chấm dứt khổ đau trong Phật giáo giống như một toa thuốc. Khi một vị bác sĩ giỏi chữa một bệnh nhân có bệnh nặng, toa thuốc của ông không chỉ chữa thể xác mà còn tâm lý. Nếu bạn đang đau đớn, chẳng hạn, về bệnh tim, bạn không những được cho thuốc men mà bạn còn được yêu cầu phải kiêng khem trong việc ăn uống và tránh tình trạng căng thẳng.

Nơi đây cũng vậy, nếu bạn nhìn vào những chỉ dẫn đặc biệt để theo con đường chấm dứt khổ đau của Phật Giáo, chúng ta thấy chúng không chỉ đề cập đến thân xác – hành động và lời nói – mà còn đề cập đến tư tưởng.

Nói một cách khác, Bát Chánh Ðạo cao quý, con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau, là một con đường toàn diện, một phương pháp chữa trị tổng hợp. Nó được đặt ra để chữa lành chứng bệnh về khổ đau bằng cách loại bỏ nguyên nhân của nó, và cũng chữa trị áp dụng không chỉ cho thân xác mà còn cho cả tinh thần…”…

Trên đây là bài luận giải của tiến sĩ Peter Della Santina về nội dung của Niết Bàn. Niết Bàn là một cảnh giới tâm thức đã có nhiều người kinh nghiệm và sống trong cảnh giới đó, thí dụ đức Phật, sau khi đắc đạo, Ngài còn trụ thế gần 50 năm nữa và như các vị A La Hán, các thiền sư Kiến Tánh, các tu sĩ đã xong việc, nghĩa là đã hóa giải được các ô nhiễm Tham Sân Si.

Bài kệ tóm tắt con đường tu hành của Phật tử là:

Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.

“Tự thanh tịnh tâm ý” chính là con đường Niết Bàn. Tâm ý con người luôn luôn hoạt động, dòng tư tưởng trôi chảy triền miên khiến cho trí óc luôn bị dính mắc với hết chuyện này tới chuyện khác, nhà Phật gọi là vọng tâm sinh diệt.

Tất cả các pháp môn tu hành của nhà Phật đều để đạt mục tiêu chấm dứt tâm viên ý mã, tức là tâm ý nhảy nhót lung tung, từ chuyện này qua chuyện khác  như con vượn con ngựa, không lúc nào yên. Chấm dứt được những trói buộc của sự suy nghĩ liên tục, vọng tâm sinh diệt, thì tâm hồn sẽ được giải thoát.

Có một câu chuyện Thiền như sau:

Một thiền sinh tới gặp vị thiền sư danh tiếng, xin làm đệ tử. Thiền sư liệng cái gối ngồi thiền ra ngoài hè rồi nói:

- Ông ra kia ngồi đi.

Thiền sinh hỏi:

- Ngồi rồi có làm gì nữa không ạ?

Thiền sư đáp:

- Không làm gì cả, có cái gì trong đầu thì ông xả bỏ đi.

Nhiều ngày trôi qua, một hôm thiền sinh bước vào gặp thiền sư:

- Bạch thày, con đã xả hết rồi.

Thiền sư nhẹ nhàng:

- Ông xả luôn cái ý nghĩ về xả đi.

Thiền sinh hỏi:

- Bạch thày, nếu con xả hết như thế thì con được gì ạ?

Thiền sư cười:

- Ông chẳng được gì cả, chỉ ra khỏi thùng rác thôi.

Thưa quý khán thính giả,

Nhà Phật coi những hoạt động của tâm ý thức, suy nghĩ triền miên là vọng tâm, không phải chân tâm. Nghĩ điều tốt là tạo ý nghiệp tốt, sẽ được hưởng thiện quả, nghĩ điều xấu thì tạo ý nghiệp xấu, sẽ lãnh quả báo xấu, đều trong vòng sinh diệt nhân quả của thế gian, thuộc về hai lời dạy của chư Phật là “Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành”.

Nhưng mục tiêu của hành giả tu thiền Phật giáo là ngộ Đạo, giải thoát khỏi mọi khổ não, cho nên phải giải quyết phần thứ ba là “Tự thanh tịnh tâm ý”. Đó là ý nghĩa câu “ra khỏi thùng rác” của vị thiền sư

Nơi kinh Viên Giác, đức Phật dạy:

- ….”…chúng sanh bổn lai thành Phật, sanh tử Niết Bàn đều như việc trong mộng.

Bồ tát Kim Cang Tạng thưa:

- Bạch Thế Tôn! Nếu các chúng sanh bổn lai thành Phật, tại sao lại có tất cả vô minh? Nếu chúng sanh bổn lai thành Phật, rồi sau mới khởi vô minh, vậy chư Như Lai đến lúc nào sẽ sanh khởi lại tất cả phiền não?

Phật dạy:

- “Như luyện quặng vàng, vàng chẳng phải do luyện mà có, mà trong quặng vốn đã có vàng. Sau khi đã thành vàng ròng thì dù trải qua vô lượng kiếp tánh vàng chẳng hoại, chẳng thể trở lại làm quặng nữa; vậy chẳng nên nói rằng vàng ròng vốn chẳng thành tựu, Viên Giác của Như Lai cũng như thế”.

Vàng quặng đã vốn có vàng, lọc bỏ tạp chất thì vàng ròng xuất hiện. Tâm ý thức của con người lăng xăng che mờ Giác Tánh, vì thế cần “thanh tịnh hóa” để Giác Tánh hiển lộ.

Khi thiền sinh xả bỏ được tất cả, là ông ta “thanh tịnh hóa tâm ý”. Cũng như vàng quặng lọc bỏ tạp chất sẽ xuất hiện vàng ròng. Hành giả ngưng dứt cuồng tâm bay nhẩy như vượn như ngựa, thì sẽ thể nghiệm được cảnh giới an lạc, giải thoát của Hữu Dư Niết Bàn.

Câu chuyện Thiền đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 4 – Ngũ Uẩn

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã kính gửi tới quý thính giả một đoạn trong kinh Chuyển Pháp Luân, đức Phật mô tả nỗi khổ như sau:

“Hỡi các Tỳ Khưu, đây là Chân Lý Thâm Diệu về Khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống chung với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ. Tóm lại, bám níu vào ngũ uẩn là khổ.”

Vậy ngũ uẩn là gì?

Ngũ uẩn, còn gọi là ngũ ấm, nghĩa đen là năm nhóm ngăn che. Năm nhóm này bao hàm phần có hình tướng là thân và phần vô hình là tâm của con người, đồng thời cũng che mờ chân lý, khiến cho con người phải luân hồi sinh tử triền miên, gồm có:

Sắc uẩn, là phần hình hài vật chất, gồm bốn thành tố là:

Chất cứng, thuật ngữ nhà Phật gọi là Địa Đại, tạo thành thịt da xương cốt, vân vân..

Chất lỏng, nhà Phật gọi là Thủy Đại, tạo thành máu huyết, nước mắt, nước tiểu, vân vân…

Chất hơi, nhà Phật gọi là Phong Đại, tạo thành hơi thở, vân vân…

Chất nóng, nhà Phật gọi là Hỏa Đại, tạo thành sự ấm áp của cơ thể, vân vân…

Nói gọn thì phần cơ thể vật chất của con người gồm có bốn thành tố này hợp lại mà thành, nên nhà Phật thường nói “cái thân bốn Đại”. Sắc uẩn gồm tất cả những cơ quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể con người, còn gọi là Thân Căn.

Thọ uẩn, là phần cảm giác, vui buồn khi đối trước cảnh.

Tưởng uẩn, là nhận thức, tư tưởng.

Hành uẩn là phần tác ý, tạo nghiệp.

Thức uẩn, là môi trường nhận biết để cho Thân Căn và đối tượng có thể duyên sanh với nhau mà hoạt động, gọi là bộ ba Căn, Trần và Thức. Thí dụ khi một người nghe thấy tiếng trống, thì tai là Căn, tiếng trống là Trần và  duyên sanh giữa Căn và Trần khiến người đó nghe được là do sự xuất hiện của Thức.

Căn có Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý Căn, tức là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý Căn.

Thức tùy duyên theo Căn nào thì đổi thành Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý Thức, chứ không phải là một thể cố định. Về điều này, đức Phật đã dạy rõ như sau:

- “ Thức do các duyên với điều kiện mà sinh khởi chứ không cố định. Nếu không có duyên thì không có Thức sinh khởi. Thức được gọi tên tùy thuộc vào điều kiện nó duyên theo, do con mắt và cảnh vật mà Nhãn Thức duyên, do tai nghe và tiếng động mà Nhĩ Thức duyên, vân vân. Thí dụ ngọn lửa được gọi tên theo nguyên liệu, lửa cháy bằng củi gọi là lửa củi, cháy bằng rơm gọi là lửa rơm. Thức cũng thế, tùy theo điều kiện tương ứng mà nó có tên, thí dụ ở mắt là Nhãn Thức, ở tai là Nhĩ Thức, ở mũi là Tỷ Thức, vân vân”.

Tóm lại, đó là ngũ uẩn. Cái mà ta gọi là một “linh hồn” hay “cá thể” hay “tôi”, chỉ là tên gọi cho sự nhóm họp của năm uẩn ấy. Tất cả chúng đều vô thường. Vô thường là luôn luôn biến đổi, luôn luôn sinh diệt, từng sát na đã có sinh và diệt, đã có sự thay đổi. Nếu không thấm nhuần chân lý này mà cứ bám níu, muốn có sự cố định, muốn mọi thứ đều vĩnh viễn thường còn, thì Khổ.

Trong việc học và hành theo đạo Phật, điều tối quan trọng là phải hiểu chân lý thứ nhất này một cách rõ ràng. Bởi vì, như đức Phật dạy: “Người nào thấy rõ được Khổ cũng thấy luôn nguyên nhân của Khổ, cũng thấy luôn sự diệt Khổ và cũng thấy luôn con đường đưa đến sự diệt Khổ”.

Để có thêm tài liệu về ngũ uẩn là vô thường, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài trầm tư của thượng tọa Thích Chơn Thiện, lược trích từ cuốn Phật Học Khái Luận, như sau:

“Sống ở đời, chúng ta cứ đinh ninh rằng, thân ngũ uẩn này là Ta, là của Ta. Thân vật lý này là Ta, là của Ta. Hiểu biết, tri thức này là Ta, của Ta. Tình cảm thương yêu này là Ta, của Ta. Ý chí sống này là Ta, của Ta.

Rồi chúng ta nỗ lực làm đẹp chúng, khát vọng tìm kiếm hạnh phúc qua chúng, qua sự nuôi dưỡng và phát triển chúng.

Chính trong hướng sống này chúng ta đã, đang và sẽ đối đầu với bao nhiêu khổ đau đến từ bao nhiêu trở lực.

Trở lực thứ nhất là thân thể, sức khỏe, tình cảm, tri thức và ý chí ấy, tự thân chúng biến đổi trong từng phút từng giây. Tất cả những biến đổi này ở ngoài sự kiểm soát của mình, do đó chúng gây ra các sầu muộn, khổ đau. Càng yêu tự ngã bao nhiêu, chúng ta càng chịu đau đớn bấy nhiêu.

Trở lực thứ hai là khi chúng ta nhận ra mình có mặt ở đời, thì đồng thời nhận ra thân ngũ uẩn này là nghiệp quả của nghiệp nhân quá khứ, ở ngoài ý muốn của mình trong hiện tại, không đáp ứng cái khát vọng của mình về mình.

Cái mũi, cái tai, gương mặt, cái tóc, màu da, trí não, tình cảm… bất như ý là cái gì để lại cho mình ngậm ngùi suốt đời. Đôi mắt lé, chiếc mũi hếch, đầu tóc quăn, giọng nói khàn… khiến mình cảm nhận như hạnh phúc của mình cũng bị héo úa, tàn tật. Kiến thức, dòng dõi khiêm tốn cũng ám ảnh hạnh phúc của đời mình.

Nhưng cả đến lúc mình có thân sắc đẹp, trí não thông sáng, nhiều tài năng thì cũng chỉ rơi vào kiếp bạc phận, như cụ Ôn Như Hầu, thi hào Nguyễn Du, và bà Đoàn Thị Điểm đã nói:

“Oán chi những khách tiêu phòng,

Mà xui phận bạc nằm trong má đào”.

 trong Cung Oán Ngâm, và:

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Lạ gì bỉ sắc, tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

trong Đoạn Trường Tân Thanh, hoặc:

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”

trong Chinh Phụ Ngâm.

Trở lực thứ ba là chỉ một làn gió độc có thể chấm dứt mạng sống, hay có thể làm tê liệt cơ thể, và tê liệt cả những ước mơ, sự nghiệp và hạnh phúc của mình. Sự nghiệp nhân sinh đang được treo hờ hững ở đầu hơi thở.

Trở lực thứ tư là cuộc sống sẽ có một lần kết thúc bằng cái chết. Cái chết thì lại đến không có hẹn kỳ giữa khi ước mơ của mình muốn tồn tại lâu dài. Sự thực này trái ngược với ước mơ của mình, nên gây ra nỗi đau nhức tâm trí cho chính mình.

Trở lực thứ năm là lời khen và chê của đời về cái thân sắc này, về hiểu biết này, khiến mình cảm nhận như là mình bị khinh chê rồi buồn khổ.

- Khi bị một quả đấm vào thân xác, hay một quả đấm tình cảm, sự kiện chỉ xảy ra trong khoảnh khắc nhưng tư duy của mình về tự ngã khiến mình nghe đau đến trọn đời, chỉ do vì nghĩ tưởng rằng năm uẩn này là mình, là của mình.

Trở lực thứ sáu là các thành bại như thi rớt hay thất bại trong kinh doanh cũng gây một sức ép lớn trên tâm thức của mình. Có khi đẩy đưa đến quyết định xuôi tay.

Một số trở lực tiêu biểu vừa nêu thường quấy rối hạnh phúc con người chỉ vì ý niệm “tôi là”  Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức ấy. Do có ý niệm “tôi là” mà có lòng tham ái đối với năm uẩn, và do có lòng tham ái năm uẩn, mà có ý niệm “tôi là”. Đây là sự thật khổ đau, nhưng làm thế nào có thể sống mà không khát ái, không có ý niệm “tôi là”?

Là Phật tử, chúng ta cần ổn định nhận thức rằng chỉ có các tư duy đầy ngã tính, các tư duy mang ý niệm “tôi là” mới thực sự rỗng không, trống không, mới đun đẩy ta đến cảm giác trống rỗng. Rời khỏi lòng khát ái và tư duy “tôi là” ấy, chúng ta sẽ đi vào thực tại, xúc tiếp với thực tại an lạc, hạnh phúc và giải thoát. Thực tại ấy đang hiện hữu tràn đầy trước mắt chúng ta, trong ta, trong mọi người, và trong khắp xứ sở. Ở đó thì vắng mặt đau khổ.

Chúng ta cũng đã rõ rằng:

- Tất cả sự nghiệp nhân quá khứ đã dồn về chiếc thân ngũ uẩn mà đức Thế Tôn dạy đó là nghiệp cũ. Những gì chúng ta nhận thức và hành động trong hiện tại là nghiệp mới.

Mỗi người chúng ta đang là nhân chủ quyết định khổ đau hay hạnh phúc cho chính mình. Các nhân tố ngăn cách ta với hạnh phúc và chân lý đang nằm gọn ở nơi ta, đó là ý niệm “tôi là” và lòng tham ái.

Nỗ lực loại trừ nhân tố ngăn cách ấy là nuôi dưỡng và phát triển trí tuệ, giúp đỡ những người khác sống hạnh phúc, thoát ly các nhân tố khổ đau, nuôi dưỡng và phát triển lòng đại bi. Sứ mệnh phát triển đại trí và đại bi cho mình và cuộc đời là số mệnh của đạo Phật, điều mà chúng ta cần sống với”.

Bài pháp trên đây của thượng tọa Thích Chơn Thiện nhắc nhở chúng ta rằng ngũ uẩn là vô thường, để chúng ta nhìn rõ thực tế mà tránh bệnh tham ái.

Đức Phật dạy bốn Chân Lý Thâm Diệu từ Khổ cho tới Diệt Khổ, cũng như thày thuốc phát hiện ra bệnh, tìm lý do khiến bị mắc bệnh và điều trị đúng thuốc là Diệt hết bệnh Khổ. Nguyên nhân của bệnh ở đây là tham ái đến trở thành mù quáng, bám níu, chấp chặt vào “cái tôi” và “cái của tôi”, vốn chỉ là tập hợp của ngũ uẩn, luôn luôn thay đổi, vô thường.

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện về “vô thường và không bám níu”, trích dịch từ cuốn The Power of  Now của Eckhart Tolle.

Nơi phần duyên khởi cuốn sách, tác giả Eckhart Tolle viết rằng, trong suốt 30 năm đầu của cuộc đời, ông luôn sống với trạng thái lo âu, có lúc u uất quá, còn muốn tự sát nữa. Ngày nay nhớ lại, ông có cảm giác đang nói về một kiếp quá khứ xa xôi, hoặc chuyện đời của người nào khác.

Một đêm kia, không lâu sau ngày sinh nhật thứ 29, ông choàng tỉnh trong cơn kinh hoàng. Đã nhiều lần ông thức giấc với nỗi sợ hãi, nhưng cảm giác kinh khiếp lần này lên đến tột độ, ông chưa từng trải qua bao giờ. Sự yên tịnh ban đêm, bóng dáng lờ mờ của bàn ghế trong căn phòng tối, tiếng xe lửa từ xa vọng về, tất cả thật là xa lạ, thật là đáng ghét và hoàn toàn vô nghĩa khiến ông cảm thấy kinh tởm cả cái thế giới này. Cái đáng kinh tởm nhất là sự tồn tại của bản thân. Ông tự hỏi, tại sao phải tiếp tục sống với cái gánh nặng đau khổ này, tại sao cứ phải theo đuổi cuộc tranh đấu khốn kiếp này? Lúc đó, ông cảm thấy một niềm mong mỏi thiết tha được chấm dứt cuộc đời nổi lên mãnh liệt hơn hẳn lòng ham muốn sống. Trong tâm ông liên tục hiện lên ý nghĩ “Tôi không thể sống với bản thân được nữa”.

Bất thình lình, một câu hỏi xuất hiện “Vậy tôi là một hay hai? Nếu tôi không thể sống với bản thân, thế thì tôi phải là hai, “cái tôi” và “cái bản thân mà tôi không thể sống với”. Hay là chỉ có một trong hai cái là thật”.

Rồi bỗng nhiên ông nhận thức một điều lạ lùng là tâm trí bẵng đi, ngưng bặt. Ông vẫn tỉnh táo nhưng không còn một tư tưởng nào trong óc. Rồi ông cảm thấy mình bị cuốn vào một lực xoáy, lúc đầu thì nhẹ sau cơn xoáy nhanh dần. Ông sợ lặng người và run bắn lên. Dường như từ trong ngực, một tiếng nói xuất hiện “Đừng chống cự”. Ông thấy như mình bị cuốn vào khoảng không, mà lại có vẻ như khoảng không đó chính là từ trong ông chứ không ở ngoài. Rồi bất thình lình, sự sợ hãi biến mất, ông đã lọt vào khoảng không. Sau đó, ký ức ông chẳng còn gì nữa.

Ông thức giấc khi nghe tiếng chim hót đầu ngày. Chưa từng bao giờ ông được nghe thấy tiếng hót hay đến thế. Chung quanh ông, tất cả đều đổi khác, đều đẹp tuyệt diệu,  khác hẳn với cảnh vật trước khi xảy ra hiện tượng vừa kể. Cảm giác của ông thay đổi hoàn toàn, ông kinh ngạc trước vẻ đẹp của tất cả mọi sự, mọi vật, một vẻ đẹp mà trước kia ông chưa từng thấy. Trong lòng ông tràn ngập một niềm an lạc, không còn nỗi sợ nào xuất hiện.

Một thời gian dài sau này, ông vẫn còn thấy niềm an vui ngây ngất của giây phút kinh nghiệm thực tại mà về sau, khi đọc những sách về tâm linh, ông mới nhận ra được phần nào ý nghĩa của những sự kiện mà ông đã trải qua.

Cho đến khi ông viết cuốn sách này, niềm ngây ngất khi xưa đã lắng xuống dần, còn lại là cảm giác an bình đồng thời sự sợ hãi đã hoàn toàn biến mất. Ông nhận thấy mình trở nên yêu cuộc đời, yêu con người và cảnh vật chung quanh. Ông cũng cảm nghiệm rằng tất cả những sự thay đổi của đời ông đều từ chính ông mà có, ông không nhận một ân huệ nào từ bên ngoài.

Ông tâm sự là rất thích câu nói của đức Phật về giác ngộ giải thoát, là “Sự chấm dứt Khổ”.

Mở đầu cuốn The Power of  Now, ông kể câu chuyện ẩn dụ sau đây:

“Một người hành khất ngồi bên lề đường đã hơn ba chục năm. Bữa kia, có một người khách lạ đi ngang qua. Như cái máy, người hành khất chìa chiếc mũ rách, lẩm bẩm:

- Cho xin chút tiền lẻ.

Người khách lạ trả lời:

- Tôi chẳng có gì cho ông.

Rồi ông ta hỏi lại người hành khất:

- Ông ngồi lên trên cái gì thế?

Người hành khất đáp:

- Chẳng có gì, chỉ là cái hộp cũ. Tôi đã ngồi lên nó mãi từ bao lâu nay rồi, chẳng nhớ nữa.

Khách lạ hỏi:

- Thế có bao giờ ông nhìn vào trong hộp không?

Người hành khất đáp:

- Không, mà nhìn vào làm gì? Chẳng có gì trong đó hết.

Khách lạ nài nỉ:

- Vậy thì hãy nhìn thử cái coi.

Người hành khất tìm cách nậy tung nắp hộp. Thì  ô  kìa, ông ta sững sờ kinh ngạc, không tin nổi mắt mình, trước mắt ông ta là một hộp đầy nhóc những vàng”.

Tiếp theo câu chuyện, tác giả tâm tình với độc giả của ông:

- “Tôi cũng như người khách lạ trong chuyện, vốn chẳng có gì để tặng quý vị, chỉ xin quý vị hãy nhìn vào bên trong. Không phải bên trong của bất cứ cái hộp nào, giống như câu chuyện ẩn dụ, nhưng mà ở một nơi còn gần gũi hơn, đó chính là nhìn vào nội tâm của quý vị”.

Như quý vị đã thấy, trong câu chuyện ẩn dụ, tác giả Eckhart Tolle muốn nói với người đọc rằng chúng ta có một kho tàng ngay trong tầm tay, ngay trong tâm này, nhưng chúng ta đã quên nó, mà cứ chạy ra bên ngoài để tìm kiếm chút niềm vui nhỏ. Đó là thói quen từ nhiều đời rồi. Nay hãy xả bỏ thói quen đó, tự nhìn vào nội tâm, chúng ta sẽ phát hiện được kho tàng hạnh phúc, như câu chuyện người hành khất, ngồi trên thùng vàng đã trên ba chục năm mà không biết mình ngồi trên kho vàng. Cho đến khi có người thuyết phục mới chịu khám phá để phát hiện ra rằng nếu biết sớm thì mình đã không khổ.

Nhưng thế nào là “nhìn vào nội tâm”?

Có lẽ ít nhất là một lần trong đời, quý thính giả đã từng tụng hoặc nghe tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh, mà bất cứ một thời kinh nào, dù là ở chùa hay tại tư gia, cũng đều có tụng bài này.

Ngay câu đầu của bài kinh là:

“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách …”…

Bát-nhã ba-la-mật-đa là phiên âm của tiếng Phạn prajna paramita, còn được gọi là “trí-tuệ bát-nhã”. Tiếng Phạn prajna có nghĩa là trí tuệ, paramita nghĩa là “rốt ráo”, “qua bờ kia”. Trí-tuệ bát-nhã là một thuật ngữ của nhà Phật có nghĩa là “trí-tuệ rốt ráo”. Trí tuệ này không do học nhiều hiểu rộng chuyện thế gian mà phát triển, nhưng từ công năng thiền quán thâm sâu mà trực ngộ.

Câu kinh trên được giải thích là “Bồ Tát Quán Tự Tại do thực hành thiền quán thâm sâu mà trực ngộ rằng ngũ uẩn (tức là toàn bộ thân và tâm) vốn chỉ duyên nhau mà xuất hiện, bản chất là “Không”, do đó, không còn bám víu, cho nên giải thoát khỏi tất cả mọi nỗi thống khổ”.

Câu chuyện ẩn dụ đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 3 – Tứ Diệu Đế (Bốn Chân Lý Thâm Diệu)

Bài 3 – Tứ Diệu Đế (Bốn Chân Lý Thâm Diệu)

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày sơ lược với quý vị về Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà đức Phật đã chứng ngộ là:

- Chân Lý về Khổ

- Chân Lý về Nguyên Nhân của Khổ

- Chân Lý về sự Diệt Khổ

- Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ.

Kỳ này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về Bốn Chân Lý Thâm Diệu này.

Kính thưa quý vị,

Do quan sát thấy cuộc đời mỗi con ngưòi đều nhiều nỗi thống khổ quá, “nước mắt của chúng sinh nhiều bằng nước ngoài biển cả”, đức Phật quyết định đi tìm con đường cứu khổ cho nhân loại.

Sau một thời gian dài thiền định và quán tưởng thâm sâu, Ngài chứng ngộ được toàn bộ vấn đề của kiếp nhân sinh, đó là chứng ngộ Tứ Diệu Đế, tức là Bốn Chân Lý Thâm Diệu.

Bốn Chân Lý Thâm Diệu này là cốt tủy của đạo Phật mà tầm quan trọng đã được đức Phật xác định:

- “Xưa cũng như nay, Như Lai chỉ giải thích về Khổ và sự Diệt Khổ “

Để quý độc giả có thêm tài liệu về Bốn Chân Lý Thâm Diệu này, chúng tôi xin lược trích một đoạn trong cuốn The Buddha’s Ancient Path, tác giả là hòa thượng Piyadassi Thera, tỳ khưu Pháp Thông dịch ra Việt Ngữ.

Hòa thượng Piyadassi Thera sinh quán tại Tích Lan, là một học giả đồng thời là một diễn giả danh tiếng về Phật pháp trên các hệ thống truyền thanh  Tích Lan. Nhờ nghiên cứu sâu rộng Tam Tạng kinh điển và luận giải thuộc hệ Pali nguyên thủy, nên sự hiểu biết của ngài về đạo Phật rất uyên thâm và sâu sắc. Cũng nhờ thế mà các bài giảng của ngài luôn luôn có dẫn chứng bằng những câu chuyện thích hợp và những đoạn trích lời đức Phật đều giữ được sự trung thực.

Trong cuốn The Buddha’s Ancient Path, Hòa thượng Piyadassi Thera đã trình bày rành mạch Bốn Chân Lý Thâm Diệu về Khổ, vốn là bài học chính yếu, cốt tủy của đạo Phật, như sau:

“Tứ Diệu Ðế (nghĩa là Bốn Chân Lý Thâm Diệu) được chứng ngộ trong khi đức Phật ngồi thiền quán dưới cội Bồ Ðề tại Gàya. Tứ Diệu Ðế này đã hình thành chân lý trung tâm của đạo Phật. Toàn bộ bài pháp đầu tiên của đức Phật dành trọn vẹn để trình bày về bốn Diệu Ðế này, vì đó là cốt tủy của Phật giáo:

- “Ví như dấu chân của các loài đi trên đất, có thể được chứa đựng trong dấu chân Voi, được xem là lớn nhất về cỡ, giáo lý Tứ Diệu Ðế này cũng vậy, bao quát hết thảy mọi thiện pháp”

 Trong kinh điển Pàli nguyên thủy, đặc biệt là trong Tạng kinh, Tứ Diệu Ðế này được diễn giải chi tiết bằng nhiều cách khác nhau. Không có một nhận thức rõ ràng về Tứ Diệu Ðế, người ta khó có thể hiểu được Ðức Phật đã dạy những gì trong suốt 45 năm hoằng hóa.

Ðối với đức Phật thì toàn bộ lời dạy của Ngài chỉ nhằm để hiểu về Khổ, về tính chất bất toại nguyện của mọi hiện hữu duyên sanh, và biết được con đường giải thoát khỏi tình trạng bất toại nguyện này.

Ðức Phật xác định: “Xưa cũng như nay, Như Lai chỉ giải thích về Khổ và sự Diệt Khổ “

Hiểu được lời tuyên bố rõ ràng này, là hiểu được đạo Phật; vì toàn bộ lời dạy của Ðức Phật không gì khác hơn là sự ứng dụng nguyên tắc này.

Ðức Phật được xem là vị lương y tài đức vô song, một phẫu thuật sư tối ưu. Ngài thực sự là một vị Tối Thượng Y Vương.

Phương pháp trình bày của Ðức Phật về Tứ  Diệu Ðế  có thể so sánh với phương pháp của một vị lương y. Là một lương y, trước tiên ông ta bắt mạch chẩn bệnh, kế đó tìm xem đâu là nhân sanh bệnh, rồi mới tìm cách loại trừ bệnh và cuối cùng ứng dụng cách chữa bệnh.

Khổ là bệnh; Tham Ái là nguyên nhân hay sự phát sanh của bệnh; do sự đoạn trừ Tham Ái, bệnh được đoạn trừ.

Người bệnh cần phải biết được bệnh tình của mình, anh ta phải ghi nhận được diễn tiến của nó để khỏi trở nên trầm trọng, rồi anh ta phải nghĩ đến cách đoạn trừ nguyên nhân sanh ra bệnh; với kết luận như vậy anh ta đi đến vị lương y để chẩn bệnh và kê toa cho thuốc, nhờ hiệu quả của thuốc mà bệnh nhân hết bệnh, và đó là cách chữa.

Như vậy :

- Khổ, không thể không biết, mà cần phải biết rõ, vì đó là chứng bệnh tàn khốc nhất, Tham Ái là nguyên nhân sanh khổ, cần phải loại bỏ. Bát Chánh Ðạo cần phải được tu tập, thực hành, vì đó là cách chữa bệnh Khổ.

Với tri kiến hiểu biết về Khổ, với sự đoạn trừ Tham Ái qua việc thực hành Bát Chánh Ðạo, sự chứng đắc Niết Bàn là điều tất yếu.”

Kính thưa quý vị,

Trên đây là lời giảng của hòa thượng Piyadassi. Như thế, hẳn quý vị đã thấy tầm quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế trong đạo Phật. Bản hoài của đức Phật là chỉ đường cho chúng ta chuyển hóa tâm thức để giải thoát khỏi mọi đau khổ, vì vậy, tất cả các pháp môn được thiết lập để tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Bốn Chân Lý Thâm Diệu là căn bản, là nền tảng để xây dựng tòa nhà Phật giáo.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh, đức Phật cũng dạy:

- “Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, ta sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ Diệu Đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này cũng không thể xảy ra”

Kinh Di Giáo cho biết rằng trên bốn chục năm sau khi chứng ngộ Tứ Diệu Đế, vào lúc đã sắp nhập Niết Bàn, đức Phật vẫn còn dạy chư đệ tử vây quanh một lần cuối cùng:

- “Các thầy Tỳ kheo, đối với Tứ Diệu Đế, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp”

Như thế, quý vị hẳn đã thấy tầm quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế qua sự xác định của chính đức Phật.

Bây giờ chúng tôi xin đề cập đến Chân Lý Thâm Diệu thứ nhất, là Khổ Đế. Trong bài pháp đầu tiên, gọi là kinh Chuyển Pháp Luân, đức Phật mô tả cái khổ như sau:

“Hỡi các Tỳ Khưu, đây là Chân Lý Thâm Diệu về Khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống chung với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ. Tóm lại, bám níu vào ngũ uẩn là khổ.”

Trước hết, chúng ta nói về sự Khổ của Sanh. Trong chương Nhập Thai Tạng, kinh Đại Bảo Tích, đức Phật đã nói về sự khổ khi còn trong thai mẹ và lúc sinh ra, đại ý là: …”…lúc thai ở bụng mẹ như ở trong cái nồi, lúc mẹ ăn nhiều hay ăn ít, thai đều bị đau khổ, hoặc ăn quá lỏng, quá khô, quá lạnh, quá nóng, đứa con đều đau khổ cả. Hoặc mẹ đi gấp, chạy mau, ngồi lâu, nằm lâu, hay nhảy nhót, thai đều bị khổ. Lúc sơ sanh rơi vào tay người, hoặc trên khăn, chiếu v.v… hoặc trong nắng hay chỗ râm, hoặc trên xe, hoặc nơi giường, trong lòng người, tất cả mọi chỗ đều chịu sự đau đớn, khổ sở…”…

Khổ vì tuổi già (Lão), thì đó là lúc trí nhớ đã lu mờ, suy nghĩ lẫn lộn, không còn sáng suốt, cơ thể hao mòn, nhức nhối, đi đứng lập cập, ăn uống khó khăn. Già mà nghèo khó thì dĩ nhiên là khổ. Nhưng ngay cả đến người giầu có, sang trọng, cũng vẫn khổ vì tuổi già.

Có câu chuyện ẩn dụ về bà hoàng thái hậu, một hôm gặp một cô thiếu nữ trông có vẻ nghèo nàn nhưng trẻ trung nhanh nhẹn, bà ra lệnh ngừng xa giá để xuống trò truyện với cô ta. Cuối cùng bà hỏi:

- Con có muốn được sống giầu sang phú quý chăng? Nếu muốn, con hãy đổi thân xác cho ta, từ nay con là hoàng thái hậu, ta sẽ là cô bé nghèo.

Cô thiếu nữ nhìn lên gương mặt bà hoàng, với những nếp nhăn ngang dọc nét thời gian, tóc bạc, răng móm, cô sợ quá bèn ù té chạy một mạch mất biến.

Khổ vì già đã không chừa ngay cả đến bà mẹ của vua. Nếu biết sống một cách sáng suốt, hiểu được sự vận hành của thiên nhiên, theo với thời gian lá vàng phải rụng, để mầm nhánh vươn ra, thì sẽ bớt được sự khổ não khi mỗi buổi sáng nhìn vào gương, trông thấy những vết nhăn hằn sâu trên mặt, thấy mái tóc thêm bạc.

Thưa quý khán thính giả,

Như quý vị đã thấy, khổ vì Bệnh thì phần lớn chúng ta đều có kinh nghiệm. Tuy vậy, nếu bệnh qua loa thì đời sống còn chưa đến nỗi xáo trộn. Chẳng may mắc chứng nan y thì cuộc đời trở thành cơn ác mộng vì không còn sinh thú gì mà cứ phải chịu đau đớn triền miên.

Khổ vì Chết là nỗi khổ đáng sợ nhất vì không ai biết cái gì sẽ chờ đợi bên kia cửa tử. Người ta thường nghĩ rằng chết là hết, là chấm dứt tất cả mọi liên lạc với thân nhân, bè bạn, là ra đi một mình chẳng biết sẽ về đâu, là chia tay vĩnh viễn với tài sản danh vọng một đời thâu góp.

Khổ vì mong cầu mà không được thì hầu như luôn luôn xảy ra trong đời, học trò đi thi mong đậu nhưng nhìn bảng lại không có tên, yêu người mà người không đáp ứng, hoặc hai kẻ yêu nhau mà không được sống với nhau như cặp tình nhân huyền thoại Romeo và Juliette, đành tìm cái chết bên nhau.

Khổ vì thương yêu mà phải sinh ly tử biệt thì trong tình sử, có rất nhiều chuyện thương tâm. Thí dụ chuyện mối tình sắt son của hoàng đế Shah Jahan thuộc triều đại Mogul và lăng Taj Mahal vào thế kỷ thứ 17. Hoàng đế Shah Jahan ra lệnh xây lăng này để kỷ niệm hai mươi năm tình nghĩa mặn nồng với bà vợ yêu quý là hoàng hậu Mumtaz Mahal, đã qua đời trong lúc lâm bồn. Hoàng đế đau đớn tiếc thương nên quyết định xây cho vợ một lăng mộ đẹp nhất ngay trên bờ sông Yamuna. Với số lượng nhân công lớn đến trên hai chục ngàn người cùng toàn bộ công sức và nỗ lực, vậy mà cũng phải  mất 22 năm mới hoàn tất công trình, mà kinh phí lên tới 30 triệu ru-pi vào thời đó. Ngày nay khu lăng mộ này là một trong những địa điểm nổi tiếng, có sức thu hút rất đông du khách tới tham quan tại Ấn Độ

Như thế thì chúng ta đã thấy, ngay cả đến vị hoàng đế quyền khuynh thiên hạ, cũng không thể kéo sự sống lại cho người vợ mà mình thương yêu nhất trên đời, cũng đành bất lực nhìn người yêu nằm trong huyệt mộ, ngàn đời ly biệt, chỉ còn biết đau đớn trong lòng với những kỷ niệm cũ mà sống qua ngày thôi.

Khổ vì ghét nhau mà cứ phải gặp gỡ, liên hệ, vì những lý do ngoài ý muốn thì ai đã từng là nạn nhân của các cuộc tra tấn ắt hiểu ngay cảm giác “ghét mà cứ phải gặp” này, nhất là những tù nhân chính trị mà ban đêm nghe thấy gọi đến tên mình để “đi làm việc” (nghĩa là đi để chịu đòn tra tấn).

Khổ vì thể xác và tâm hồn luôn luôn thay đổi, lúc khỏe lúc yếu, lúc vui lúc buồn. Thân thể đang khỏe mạnh bỗng đứt gân máu, đứng tim, đang vui vẻ bỗng nghe tin người thân yêu bị tai nạn. Thế là mọi sự đều thay đổi. Vui buồn, đau yếu đều có thế bất thình lình xảy ra, vì cuộc đời vốn Vô Thường, không có gì là bền vững, nào ai biết được chuyện tương lai. Cho nên Vô Thường là Khổ.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi vừa giới thiệu với quý vị một số nỗi khổ điển hình, mà mọi người đều có thể gặp một cách bình đẳng, không đặc biệt miễn trừ ai vì bất cứ lý do nào, trích ra từ Chân Lý Thâm Diệu về Khổ, là một trong bốn Chân Lý Thâm Diệu mà đức Phật đã chứng ngộ dưới gốc cây Bồ Đề.

Mục tiêu cốt tủy của đức Phật có thể tóm gọn như sau:

- Thứ nhất là nêu ra cho mọi người nhớ rằng cuộc đời đầy dẫy những nỗi khổ để nhìn rõ thực tế mà sống tỉnh thức.

- Thứ hai là chỉ cho mọi người nhìn rõ nguyên nhân cấu thành những nỗi khổ, để tìm cách điều trị.

- Thứ ba là nói về sự thiết yếu phải chấm dứt và phương pháp chấm dứt đau khổ để được hưởng hạnh phúc và an lạc.

- Thứ tư là hành trì tu tập để chấm dứt khổ và giác ngộ Chân Lý, thấu suốt thực tướng của vạn hữu, thực chứng Hữu Dư Niết Bàn (là cảnh giới tâm thức an lạc của người ngộ Đạo).

Lời nói đầu tiên khi đức Phật vừa bừng tỉnh, giác ngộ thực tại là:

- “Lạ thay, tất cả chúng sinh đều có đầy đủ trí tuệ Như Lai, mà vì mê vọng nên phải chịu khổ trong luân hồi.”

Thưa quý thính giả,

Về trí tuệ Như Lai, chúng tôi xin gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ ngữ lục “Mud and Water” của thiền sư Bassui Tokusho, được dịch giả Arthur Braverman dịch từ Nhật ngữ qua Anh ngữ. Câu chuyện mang tên là:

 “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”

Một cư sĩ hỏi:

- Bạch thày, Thiền được mô tả là “Truyền ngoài kinh sách và không qua văn tự”, vậy mà lại có nhiều cuộc vấn đáp và tham hỏi về Đạo giữa các thiền sinh và thiền sư hơn cả giáo môn. Như thế thì làm sao có thể nói Thiền là pháp môn “truyền ngoài kinh sách?”? Xin thày giảng câu “ngoài kinh sách, không qua ngôn ngữ văn tự” nghĩa chân thực là thế nào?

Thiền sư  thốt lên tiếng gọi:

- Cư sĩ!

Ông ta đáp ngay lập tức:

- Dạ.

Thiền sư nói:

- Tiếng “dạ” đó đến từ pháp môn nào?

Ông cư sĩ cúi đầu vái thiền sư. Thiền sư tiếp:

- Khi ông dự định tới đây, là ông tự quyết định. Khi ông định hỏi, là ông tự làm công việc “hỏi” đó. Ông không nhờ đến ai và cũng không cần phải dùng đến giáo pháp của đức Phật để làm chuyện đó.

Chính cái “tâm” này chỉ đạo cho bản thân, chính nó là cốt tủy của “truyền ngoài kinh điển và không qua ngôn từ”.

Đó chính là tinh túy Thiền của Như Lai. Những lời hùng biện lanh lợi, văn chương lưu loát, phân biệt và hiểu biết cảm thông, đều không tới được bờ mé của Thiền này. Chỉ có người nào thâm quán nội tâm một cách sâu sắc, không sa vào cái bẫy của chữ nghĩa, cũng không bị những lời dậy của chư Phật, chư Tổ che phủ làm mờ chân tánh, người nào vượt qua con đường độc đạo tiến tới Giác Ngộ và không để cho sự lanh lợi khéo léo trở thành nguyên nhân suy sụp, người đó sẽ, lần đầu tiên trong đời, đạt Đạo.

Ngay từ khởi thủy, tất cả mọi chúng sinh đều vốn đã đầy đủ trọn vẹn và toàn hảo. Chư  Phật và người dân thường đều vốn bình đẳng là Như Lai tự bản chất.

Em nhỏ mới sanh vung tay khua chân cũng chính là hoạt dụng tuyệt vời của bản thể tự tánh.

Chim bay, thỏ chạy, mặt trời mọc, vầng trăng lặn, gió thổi, mây trôi, tất cả mọi sự vật hoán chuyển đổi thay đều từ hoạt dụng của guồng quay bản thể. Chúng không tùy thuộc vào lời dạy của người khác hoặc sức mạnh của ngôn ngữ.

Từ sự hoạt dụng của Giác Tánh, tức là bản thể của mỗi người, mà tôi đang nói chuyện đây và cũng vậy, các ông đang nghe tôi qua sự huyền diệu của Giác Tánh các ông đó.”

Trên đây là lời giảng của thiền sư Bassui Tokusho.

Đức Phật đã dạy “Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh”. Phật Tánh cũng là Giác Tánh, cũng là “Trí Tuệ Như Lai”.

Nếu chúng ta tu tập “Tự thanh tịnh tâm ý”, thì Giác Tánh sẽ hiển lộ, như đức Phật khi bừng tỉnh, chứng ngộ thực tại, chấm dứt tất cả Khổ.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền của thiền sư Bassui Tokusho đã kết thúc buổi phát thanh của chúng tôi. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng

Thẩm Quyền ngăn trở Sự Học Hỏi

Thông thường, chúng ta tìm hiểu, học hỏi qua sự nghiên cứu, qua sách báo, qua kinh nghiệm hoặc là được người khác dậy bảo. Đó là những lối mòn từ bao nhiêu đời nay, chúng ta đã dùng để thâu thập kiến thức. Chúng ta giao cho ký ức những dữ kiện về những điều gì nên làm, điều gì không được làm, điều gì nên nghĩ, điều gì không được nghĩ tới, nên cảm nhận mọi việc như thế nào và nên phản ứng trước mọi sự ra sao.

Qua kinh nghiệm, qua nghiên cứu, qua phân tích, qua phát hiện, qua quan sát nội tâm, chúng ta chất chứa sự hiểu biết thành ra ký ức, và rồi thì chính cái ký ức ấy sẽ đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu thêm, học hỏi thêm, thêm nữa… Những điều hiểu biết sẽ được gắn vào trí não như là kho tàng tri thức, và cái kho tri thức đó sẽ thực hiện chức năng của nó khi tới thời cơ, khi chúng ta gặp chuyện phải dùng đến nó. Giờ đây, tôi nghĩ rằng chúng ta có cách học hỏi theo lối khác, tôi sẽ xin nói qua về điều này. Nhưng, để hiểu được, và để có thể tìm tòi, học hỏi theo lối khác này, chúng ta phải hoàn toàn quên đi cái khái niệm về thẩm quyền, nếu không, chúng ta cũng sẽ lại chỉ là những con người bị chỉ bảo, và rồi chúng ta cũng sẽ chỉ nhắc lại, làm lại những điều chúng ta đã được nghe, được dậy mà thôi. Đó là lý do tại sao sự tìm hiểu bản chất của thẩm quyền lại vô cùng quan trọng.

Thẩm quyền cản trở sự học hỏi, học hỏi không phải là tích lũy những điều hiểu biết như là một kho tàng ký ức. Ký ức luôn luôn đáp ứng theo những khuôn khổ, những mẫu mực đã có san, không có tự do.

Một người mà trong tâm não chất đầy nhóc những kiến thức, những điều chỉ dẫn, bị cái gánh nặng của những điều hắn đã biết, đã học được đè trĩu xuống thì sẽ không bao giờ còn có tự do được nữa. Hắn có thể là một nhà thông thái ngoại hạng, nhưng những kiến thức mà hắn đã tích lũy cản trở hắn, không cho hắn được tự do, phóng khoáng trước những điều gì khác với kho tàng kiến thức mà hắn đã có, và vì thế, hắn mất luôn cái khả năng học hỏi thêm những điều mới lạ.

Trích The Book of Life

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Tâm Trí Tĩnh Lặng

Muốn tìm hiểu bất cứ sự kiện gì, từ lãnh vực con người cho tới lãnh vực khoa học, bạn thấy điều gì là quan trọng, là cốt tủy? – Một tâm trí trầm tĩnh, một khối óc lắng đọng trong niềm giao cảm, đúng không? Đó không phải là cái loại tâm trí đặc biệt cố gắng để tập trung – vì đó cũng lại là một loại đối kháng.

Nếu thực sự tôi muốn thâm hiểu điều gì, lập tức tâm trí tôi có ngay trạng thái trầm lặng. Khi bạn muốn thưởng thức một điệu nhạc, hoặc chiêm ngưỡng một bức tranh mà bạn ưa thích, gợi cho bạn niềm cảm xúc, thì tâm trí bạn sẽ ở vào trạng thái nào? Phải chăng ngay lập tức, tâm tư bạn trở về trạng thái lắng đọng? Khi nghe nhạc, tâm hồn bạn không lang thang đây đó, mà bạn lắng nghe. Cũng vậy, khi bạn muốn tìm hiểu sự mâu thuẫn, bạn không còn bị tùy thuộc vào thời gian, bạn chỉ đơn giản trực diện với sự việc đang xẩy ra, đó là chính cái sự mâu thuẫn. Thế là ngay lập tức, tâm trí bạn trở về trạng thái trầm tịch, lắng đọng. Khi mà bạn không còn lệ thuộc vào thời gian với ý hướng muốn chuyển hóa sự kiện vì bạn đã thấy sự sai lầm của cái tiến trình đó, thế là bạn hồn nhiên đối diện với cái “đang là”, tự nhiên tâm trí bạn trở nên tĩnh lặng. Trong tình trạng tỉnh thức trầm lặng đó, bạn thâm hiểu. Khi mà tâm trí bạn còn đang đầy dẫy mâu thuẫn, trách móc, chống cự, lên án, bạn không thể có sự thâm hiểu. Nếu tôi muốn hiểu bạn, rõ ràng là tôi phải không lên án bạn trước đã. Chính cái tâm trí an tĩnh lắng đọng đó sẽ đem lại sự chuyển hóa. Khi tâm trí không còn chống đối, không còn lẩn tránh, không còn xua đuổi hoặc lên án cái “đang là”, mà chỉ nhận thức nó một cách tĩnh lặng, thì chính từ cái tâm trí tĩnh lặng mà tỉnh thức đó, bạn sẽ có được sự chuyển biến nếu quả thật bạn muốn.

Tâm trí tĩnh lặng khi nó thấy được sự thực rằng tâm cảm chỉ đến khi nó tĩnh lặng; rằng nếu tôi muốn hiểu bạn thì đầu óc tôi phải tĩnh lặng, tôi không thể có những phản ứng chống đối bạn, tôi không được có saün thành kiến với bạn, tôi phải loại bỏ tất cả những kết luận của tôi, kinh nghiệm của tôi về bạn để mà đối diện với bạn. Chỉ khi đó, khi mà tâm trí đã thoát khỏi sự quy định của tôi, thì tôi mới có được sự tâm cảm. Khi tôi thấy được cái chân lý đó, thì tâm trí tôi mới tĩnh lặng được. Cho nên, không có câu hỏi làm thế nào để cho tâm trí tĩnh lặng. Chỉ có chân lý mới có thể giải phóng tâm trí ra khỏi sự vận hành liên tục của chính nó. Muốn thấy chân lý, tâm trí phải ý thức được cái thực tế là nếu nó còn dao dộng thì nó không thể có sự tâm cảm được.

Sự lặng lẽ của tâm, sự an tĩnh của tâm, không phải là chuyện có thể được tạo ra bởi sức mạnh của ý chí, hoặc bởi những hành động do lòng ham muốn. Nếu những điều ấy xẩy ra, thì cái loại tâm trí đó chỉ là đang bị bao vây, cô lập, đó là cái loại tâm trí chết cứng. Loại tâm trí chết cứng đó không có khả năng thích ứng, mềm dẻo, lẹ làng. Đó là loại tâm trí không sáng tạo .

 Trích: The First & Last Freedom

 Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Tầm Đạo và Đạo Sư

Trong công cuộc tầm đạo, làm sao tôi có thể biết rằng đây là đạo, là thực tại, là chân lý tuyệt đối? Làm sao tôi có thể biết được? Tôi có thể nói rằng: “Đây là thực tại”, được chăng? Cho nên, tại sao tôi phải đi kiếm tìm? Vậy thì, cái gì khiến cho tôi đi tìm? Cái gì khiến cho người ta đi tìm đạo là câu hỏi còn chủ yếu hơn là chính sự kiếm tìm và tuyên bố: “Đây là thực tại, là chân lý, là đạo”. Nếu tôi nói: “Đây là chân lý, đây là đạo”, thì tôi đã phải biết về nó từ trước rồi. Nếu tôi đã biết nó từ trước rồi, thì nó lại chẳng phải là chân lý tuyệt đối, là đạo, mà chỉ là một mớ lý thuyết đã chết cứng, từ trong quá khứ xuất hiện để mà nói rằng đó là chân lý, là đạo, là thực tại. Cái vật đã chết cứng đó không thể nói với tôi về chân lý, về đạo, về thực tại.

Như vậy, tại sao tôi tầm đạo? Bởi vì, từ trong nội tâm sâu thẳm, tôi không an vui, từ trong nội tâm sâu thẳm, tôi thấy băn khoăn, bối rối, có một nỗi buồn mênh mông từ đáy lòng và tôi muốn tìm lối để thoát ra. Ngài tới như một vị đạo sư, một người giác ngộ, hay là như một giáo sư, và nói:

“Coi này, đây là con đường để giải thoát.”

Lý do căn bản của sự tầm đạo của tôi là để giải thoát khỏi những nỗi thống khổ kể trên này và tôi thừa nhận rằng tôi có thể đạt được điều đó, và sự giác ngộ ở ngay đó, hoặc ngay trong nội tâm tôi. Vậy thì, tôi có thể thoát được những nỗi niềm buồn khổ kể trên chăng?

Tôi sẽ không thể thoát được nếu như tôi chỉ tìm cách tránh né nó, đè nén nó xuống, hoặc bỏ chạy. Nó vẫn còn đó! Dù tôi có đi tới đâu, nó vẫn còn đó. Cho nên, điều tôi phải làm là hãy tìm hiểu coi tại sao những nỗi buồn kể trên có thể hiện hữu, tại sao tôi lại cảm thấy đau khổ. Chuyện đó có phải là sự tìm kiếm không? Không! Khi tôi muốn tìm lý do tại sao tôi đau khổ, đó không phải là sự tầm đạo, cũng không được gọi là “một sự tìm kiếm” nữa, mà nó chỉ như khi tôi đến gặp vị y sĩ và nói rằng tôi bị đau bụng, ông ta bảo rằng tôi đã ăn uống bậy bạ. Như vậy, tôi phải chấm dứt sự ăn đồ bậy bạ.

Nếu nguyên nhân của những bất hạnh đến với tôi là do từ tôi, không phải từ môi trường sống của tôi, thì chính tôi phải tự tìm lấy lối thoát.

Ngài có thể, trên cương vị đạo sư, chỉ cho tôi rằng đó là cái cửa để đi ra. Nhưng ngay sau khi ngài chỉ rồi thì công việc của ngài đã xong. Từ đó, chính tôi phải hành động, chính tôi phải tự tìm ra rằng tôi sẽ phải làm gì, tôi sẽ sống ra sao, sẽ suy nghĩ như thế nào, sẽ cảm nhận cuộc đời như thế nào để có thể không còn thấy đau khổ nữa.

Trích: The Awakening of Intelligence

 Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Tâm Cảm

Một cách rất đơn giản, khi bạn muốn hiểu một điều gì đó, thì tâm trạng của bạn lúc ấy như thế nào? Khi bạn muốn tìm hiểu con bạn, khi bạn muốn hiểu người nào đó, khi bạn muốn hiểu điều mà ai đó đang nói, lúc đó, tâm bạn đang ở trạng thái nào? Bạn không phân tích, phê bình, xét đoán những lời người kia đang nói, mà bạn lắng nghe, phải vậy không? Tâm trí bạn đang ở trạng thái mà tiến trình suy nghĩ không hoạt động nhưng rất tỉnh thức. Sự tỉnh thức đó không thuộc về thời gian, phải không? Bạn chỉ lắng tâm trí trong sự thức tỉnh, lặng lẽ tiếp thu và hoàn toàn tỉnh giác; Chỉ trong trạng thái tâm tư này, chúng ta mới có tâm cảm. Khi tâm tư bối rối, thắc mắc, lo lắng, mổ xẻ, phân tích, lúc đó không thể có tâm cảm. Khi lòng mong mỏi cảm thông thật là mãnh liệt, hiển nhiên khi đó tâm tư bạn sẽ thật là tĩnh lặng.

Điều đó, dĩ nhiên rồi, bạn phải thực nghiệm, đừng nghe theo lời tôi, nhưng rồi bạn sẽ thấy rằng càng phân tích, bạn càng ít tâm cảm.

 Trích: The First & Last Freedom 

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt