Tạo Nghiệp và Nhận Lại Quả Báo

Trong kho tàng chuyện ẩn dụ của Phật Giáo, có câu chuyện “Bốn Bà Vợ”. Chuyện kể rằng, có một ông trưởng giả kia, sinh thời có bốn bà vợ.

Bà vợ Cả vốn được cha mẹ đôi bên hứa hẹn với nhau từ khi cả hai đứa nhỏ đều chưa ra đời. Sau này cả hai lớn lên, khi cha mẹ đôi bên tổ chức đám cưới cho đôi trẻ, cả hai đều chưa biết mặt nhau, cho nên đôi vợ chồng trẻ sống chung mà không có sự cảm thông, hiểu biết về nhau, chỉ như hai cái bóng bên nhau qua ngày, người chồng không thèm biết đến sự có mặt của người vợ lặng lẽ đi bên cuộc đời mình, như một vật phụ thuộc trong sự âm u tối tăm của căn nhà cổ.

Rồi người chồng ra ngoài đời làm ăn buôn bán dần dần khấm khá, ông ta bèn cưới thêm một bà vợ nữa. Từ khi có bà Hai, trong nhà luôn luôn vui vẻ với tiếng cười rộn rã, “rủng rẻng” của bà. Ông trò truyện, đùa giỡn, tối ngày cùng với bà Hai đầu gối tay ấp, tưởng như mối tình gắn bó keo sơn không có gì lay chuyển nổi.

Thế nhưng, lòng ham muốn của con người cũng giống như câu chuyện bó cỏ mà người xà ích dùng để dụ con ngựa vươn cổ vói về phía trước, không bao giờ đạt được tới đích, ông trưởng giả tối ngày đếm tiền nghe tiếng “rủng rẻng” mãi cũng thấy chán, bèn quyết định cưới thêm bà vợ nữa cho nhà cửa sầm uất vui vẻ. Thế là bà Hai đành phải chia sẻ tình yêu để ông chồng mời bà Ba “uy nghi” về nhà.

Có bà Ba rồi ông mới thấy nếu chỉ quanh quẩn trong nhà thì cũng không có gì là thú vị, chẳng ai biết đến sự giầu có sang trọng của ông, cho nên ông quyết định cưới thêm một bà vợ thứ Tư, một bà “rất sang”, mọi người trông thấy là tấm tắc ngợi khen sự cao sang của gia đình ông.

Ngủ quên trên danh vọng, vinh hoa phú quý tràn ngập, với tài kinh doanh và sự lạnh lùng tàn nhẫn trong thương trường, tiền bạc cuồn cuộn vào nhà ông như thác đổ, ông say sưa trên men chiến thắng với danh hiệu Anh Hai Chi Tiền trong những cuộc vui trà đình tửu quán. Từ trên đỉnh cao của danh vọng và quyền thế, ông quên hẳn mặt trái của xã hội, cái mặt dàn trải đầy dẫy những hoàn cảnh khổ đau đói khát, cơm không có mà ăn, co ro trong manh áo rách cho qua đêm Đông rét mướt.

Rồi một ngày kia, ông ngã bệnh. Cái tâm hồn cạn tầu ráo máng ẩn trong cái cơ thể bệnh hoạn dầm dề, kết quả tàn khốc của những cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm, đã mau chóng đưa ông tới ngưỡng cửa của Tử Thần.

Trong giờ phút thiêng liêng, gần đất xa trời, ông quyến luyến nhìn bà vợ thứ tư, tha thiết hỏi:

- Ta sắp chết rồi, em là người ta thương yêu nhất, em có đi theo ta không?

Bà Tư nức nở:

- Em thương chàng lắm, nhưng em không thể đi theo chàng sang bên kia thế giới, mà chỉ có thể theo chàng đến mộ mà thôi.

Quay qua bà Ba, ông hỏi:

- Còn em thì sao? Ta rước em về đã lâu, ngày ngày đều chiêm ngưỡng, chăm sóc, o bế, tô điểm cho em đẹp đẽ với đời. Nay ta ra đi, em có đi theo ta không?

Bà Ba nghẹn ngào:

- Em không thể chết theo chàng, nhưng em sẽ tiễn chàng tới tận góc phố, cho đến khi quan tài của chàng khuất bóng.

Thất vọng, ông thở dài hỏi bà Hai:

- Vợ chồng đầu gối tay ấp hàng bao nhiêu năm rồi, ngày đêm ta trân quý em, ta cất giữ em kỹ lưỡng, nay em có đi theo ta không?

Bà Hai mếu máo:

- Em sẽ tiễn chàng tới cửa, khi không còn trông thấy quan tài chàng nữa thì cũng là lúc mà chúng ta vĩnh biệt nhau.

Ông trưởng giả nhắm mắt trong sự buồn rầu, đau khổ. Một lúc sau, ông mở mắt nhìn về phía chân giường, nơi bà vợ Cả vừa già vừa xấu của ông đang sụt sịt, hỏi cho có lệ:

- Còn bà, chắc bà oán tôi bỏ bê bà lắm, đâu thèm nghĩ tới chuyện đi theo tôi bước vào cõi chết?

Nhưng thật là bất ngờ, bà vợ Cả bị bỏ rơi của ông cất giọng bình thản:

- Em đã cùng với chàng bước vào cuộc đời này từ khi chúng ta còn trong bụng mẹ, em sẽ đi theo chàng sang bên kia thế giới, tới tận những cuộc đời tiếp theo của chàng, mãi mãi, cho tới khi nào chàng tu hành thanh tịnh hóa được Bản Tâm, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, thì sự liên hệ của đôi ta mới chấm dứt.

Trong câu chuyện ẩn dụ này, bà vợ thứ Tư là Danh vọng.

Đối với nhiều người, cái Danh quan trọng nhất. Cả một cuộc đời bận bịu làm ăn, khi có tiền, dù là có nhiều tới đâu, người ta vẫn thấy là không đủ, phải có Danh. Người ta cũng có thể dùng cả cuộc đời để cầu Danh, dùng cả vốn liếng tiền bạc để mua Danh. Ngay đến một anh du đãng, cũng sẵn sàng phanh ngực ra lãnh viên đạn, để giữ được cái danh là “kẻ anh hùng không sợ chết”. Nhưng cái Danh chỉ theo con người tới huyệt mộ, người quá vãng được thân bằng quyến thuộc đọc cho một bài diễn văn ca ngợi những danh vọng tiếng tăm mà họ đạt được trong cuộc đời, đôi khi cũng tâng bốc quá lên để trả nợ hoặc lấy cảm tình với tang gia. Rồi thì những nắm đất thi nhau bay xuống huyệt mộ, xóa dần hình bóng chiếc quan tài lộng lẫy bằng gỗ quý, thế là hết. Người chết chẳng còn được hưởng điều thiết thực gì.

Bà vợ thứ Ba là cái Nhà. Cái nhà được ông chủ o bế sơn quét, tu bổ trồng trọt dàn hoa, cây cảnh, tường cao, cổng lớn, cho thật uy nghi hùng vĩ, ai đi qua cũng tấm tắc khen ngợi. Thế nhưng khi quan tài ông quẹo vào góc phố thì cũng là lúc ông và cái nhà vĩnh viễn xa nhau.

Bà vợ thứ Hai là Tiền Bạc. Suốt một đời bươi chải, tiếng rủng rẻng của những đồng tiền từ tay ông trôi vào ngăn tủ, rộn rã tưng bừng, nay chỉ cùng ông nhìn thấy nhau trước khi quan tài của ông ra tới cửa mà thôi. Khi đám tang khuất sau cánh cửa là ông và tủ tiền đã ngàn đời xa cách nhau rồi.

Tiền tài, nhà cửa, danh vọng đều sớm bỏ rơi ông, chỉ còn lại bà vợ Cả là lẽo đẽo theo ông đến cuối cuộc đời, đến mãi tận bên kia thế giới, theo ông sang tới những kiếp khác trong tương lai. Bà vợ đó tượng trưng cho dòng Nghiệp.

Vậy Nghiệp là gì?

Cổ nhân thường nói rằng mỗi người đều có “Quỷ Thần hai vai” để chứng giám, ghi vào sổ Thiện Ác mọi hành động tốt hoặc xấu mà người ta đã làm trong cuộc đời, để đến ngày người ấy chết thì sẽ bị Diêm Vương chiếu theo sổ Thiện Ác này mà xét xử, nếu khi sống họ làm nhiều việc tốt thì cho họ lên Thiên Đình hưởng phước báo hoặc làm nhiều việc ác thì đày họ vào Địa Ngục để chịu tội báo.

Nhà Phật không quan niệm về một vị “Quỷ Thần hai vai”, nhưng cho rằng mỗi con người đều không chỉ sống có một đời, mà khởi đầu dòng đời bằng “một niệm vô minh bất giác”, rồi từ đó trôi lăn trong một chuỗi dài những sự sinh tử triền miên, gọi là dòng đời, theo Hành nghiệp, tạo Nhân rồi thọ Quả báo.

Trong chuỗi dài những cuộc tử sinh miên viễn đó, mọi hành vi của đương sự đều từ Thân, Miệng và Ý phát sinh ra, gọi là Thân Nghiệp, Khẩu Nghiệp và Ý Nghiệp, và đều được tàng trữ trong một cái kho vô hình gọi là Tàng Thức, có thể tạm ví như lớp màng tạp chất nổi trên mặt biển Chân Tâm thanh tịnh.

Chính những tạo tác được tích lũy trong Tàng Thức này là cơ sở của Nghiệp Lực, gọi là chủng tử, lôi cuốn dòng sinh mạng của mỗi đương sự tới nơi mà hắn sẽ tái sanh, rồi lại tiếp tục gieo Nhân, lãnh Quả, các hành vi tốt hoặc xấu trong quá khứ sẽ chi phối đời sống tương lai của đương sự, mãi mãi cho tới khi nào đương sự thanh tịnh hóa được Bản Tâm, hóa giải hết các chủng tử, thì Nghiệp Lực mới chấm dứt hiện hành. Nhà Phật có câu:

- Muốn biết thời quá khứ chúng ta đã làm gì thì cứ nhìn những quả báo chúng ta đang lãnh thọ trong hiện tại.

- Muốn biết thời tương lai của chúng ta sẽ ra sao thì cứ nhìn những hành động của chúng ta trong hiện tại.

Tiến trình của Nhân và Quả này là qui luật tự nhiên, không có ai tạo ra hoặc hủy diệt, ngoại trừ chính bản thân đương sự hóa giải được các chủng tử qua con đường thanh tịnh hóa Tâm. Nếu Tàng Thức còn chứa chủng tử thì dòng sinh tử vẫn tùy theo Nghiệp tốt hoặc xấu mà luân hồi, tái sinh.

Đức Phật dạy:

“Tất cả chúng sinh đều mang theo cái Nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sinh”.

Theo định nghĩa, Nghiệp là hành động có dụng tâm hay còn gọi là tác ý. Lời nói có tác ý thì gọi là khẩu nghiệp. Chúng ta thường hay nghe: “Lời nói rồi bay mất”. Câu ấy không đúng. Lời nói ác khi hội đủ nhân duyên sẽ đem lại quả báo xấu cho người nói. Lời nói thiện cũng có tác dụng như vậy, theo hướng thiện. Thí dụ, khi chúng ta gặp người nghèo khổ, bất hạnh, chúng ta trạnh lòng thương xót, đem lời an ủi, vỗ về thông cảm. Lời an ủi đó, bắt nguồn từ tấm lòng từ ái của chúng ta là một khẩu nghiệp thiện, tương lai sẽ đem lại cho chúng ta quả báo lành.

Có dụng tâm thiện hay ác là Ý Nghiệp, mặc dù ý nghĩ đó chưa thành lời nói, chưa thành văn viết hay hành động. Một người tuy cả ngày không nói, không làm gì, nhưng đầu óc luôn bày mưu tính kế với những thủ đoạn gian lận, xấu xa, v.v… thì những mưu gian, kế độc của hắn ta, tuy chưa thực hiện, nhưng đã tác ý, cũng đều là những Ý Nghiệp xấu, tương lai sẽ mang lại quả báo xấu. Nẩy ra ý kiến rồi lại đem thân đi tạo tác, thì đó là Thân Nghiệp.

Tuy nhiên, những việc làm do vô tình, không khởi tâm tác ý, thì cũng không trong vòng nghiệp báo.

Từ những điều được trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra hai kết luận:

- Thứ nhất là trong từng giây phút chúng ta có thể tạo nghiệp mà không biết, bởi vì, chỉ trừ khi chúng ta ngủ, còn thì chúng ta thường xuyên suy nghĩ, nói năng và hoạt động; và mỗi ý nghĩ, lời nói và việc làm, mỗi cử chỉ, hành động của chúng ta đều có thể tạo nghiệp, làm thay đổi cuộc sống của chúng ta trong hiện tại và mai sau.

- Thứ hai là mọi nghiệp thiện hay ác, lành hay dữ, nặng hay nhẹ, đều do ở chỗ tác ý tức là có chủ ý, có mưu định. Tác ý thiện đưa tới quả báo an lành, tác ý ác đưa tới quả báo đau khổ. Cũng như người trồng cam thì sẽ được cây cam và quả cam. Không thể trồng cam mà lại mọc ra cây ớt. Tất nhiên, trồng cam vẫn có thể không có cam ăn, nếu không biết trồng, không bón phân tưới nước. Hơn nữa, dù cho có biết trồng thì cũng phải có thời gian nhất định mới có quả. Tạo nghiệp ác hay nghiệp thiện cũng vậy, nghĩa là phải có đủ nhân duyên và thời gian thích hợp thì mới có quả báo thiện hay ác.

Có người tuy hiện nay tạo nhiều nghiệp ác, nhưng vẫn sống sung sướng trong hoàn cảnh giàu sang, là vì người ấy trong thời quá khứ đã tạo ra nhiều nghiệp thiện, đến lúc này vừa đúng thời gian lại có điều kiện thích hợp cho nên quả báo của những thiện nghiệp đó trổ ra, vì thế họ vẫn còn được hưởng giàu sang phú quý. Còn những nghiệp ác họ đã tạo ra trong đời sống hiện tại, thì chưa đến thời gian chín muồi, lại chưa có nhân duyên thích hợp, cho nên quả báo ác chưa đến chứ không phải sẽ không đến!

Chúng ta cũng cần phân biệt thân thọ nghiệp, tức là nghiệp mà thân cảm thọ, với tâm thọ nghiệp, là nghiệp mà tâm cảm thọ. Người làm điều ác thì tâm của họ luôn luôn thắc mắc, ray rứt không yên, đó là tâm thọ nghiệp. Hoặc có những người hiện nay sống rất thiện lành, nhưng cuộc đời lại nghèo khổ, cơ cực, hoặc thường gặp rủi ro, bất hạnh. Đó là do những nghiệp ác của người ấy trong thời quá khứ, đến nay đã chín muồi, lại gặp nhân duyên đầy đủ, cho nên quả báo đau khổ hiện ra, không thể tránh được. Nếu hiện nay người đó sống nghèo khổ, nhưng lại có thiện tâm học và hiểu Phật pháp, vững tin vào mối tương quan nhân quả, quyết tâm làm điều thiện để chuyển nghiệp, thì dù sống trong sự nghèo nàn, tâm họ vẫn được an vui…

Nói tóm lại, nếu đứng về tâm thọ nghiệp thì có thể nói là quả báo xảy ra tức thời, như bóng theo hình, hay là như bánh xe lăn theo chân con bò, đúng như trong kinh Pháp Cú, bài kệ I và II viết:

Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ tạo tác
Nếu với ý ô nhiễm
Nói lên hay hành động

Khổ não bước theo sau
Như xe chân vật kéo
Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo

Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình”.

Hai bài kệ trên còn cho thấy vai trò làm chủ của ý, tức là sự tác ý đối với nghiệp nơi thân (thân nghiệp) và nghiệp nơi lời nói (khẩu nghiệp). Cũng do vậy mà đạo Phật luôn luôn nhấn mạnh trong thuyết nhân quả nghiệp báo “tác ý là nghiệp”. Vì thế phải dụng tâm, chế ngự tâm, làm sao cho tâm mình luôn luôn nghĩ thiện, nghĩ lành, thì Thân Nghiệp và Khẩu Nghiệp cũng sẽ thiện và lành, đời này và đời sau sẽ được an lạc, hạnh phúc.

Tiến lên một bước là thanh tịnh hóa Tâm, (tâm không còn nghĩ tới thiện hoặc ác nữa). Phật giáo không dừng lại ở điểm “Không làm các việc ác, chỉ làm các việc lành”, chuyển Nghiệp xấu thành Nghiệp tốt, mà còn đi xa hơn, đến chỗ “Tâm ý thanh tịnh, giải thoát”, nghĩa là thoát ly sự trói buộc của đời sống tương đối trong vòng nhân quả.

Siêng làm điều Thiện, không làm việc Ác, chỉ là vấn đề luân lý của đạo Phật, Giác Ngộ Giải Thoát mới là mục tiêu cốt tủy của Phật giáo.

Trích Thư viện Hoa Sen

Sự Sống Vĩnh Cửu

Đó là một trong những buổi sáng tuyệt diệu chưa từng thấy . Vừng dương vừa mới nhô lên, le lói giữa những hàng cây thông và cây khuynh diệp. Ánh dương chan hòa trên mặt nước một mầu vàng rực rỡ, sáng ngời – thứ ánh sáng chỉ xuất hiện trong khoảng không gian giữa núi và biển. Đó là một buổi sáng đẹp ngây ngất, bầu trời trong vắt với làn ánh sáng kỳ diệu khiến cho ta không thể chỉ chiêm ngưỡng bằng mắt mà bằng cả tấm lòng rộng mở. Và khi bạn nhìn thấy cảnh tượng ấy, bạn sẽ thấy đất và trời xích lại gần nhau và bạn sẽ cảm thấy dường như bản thân mình đã hòa tan vào với cái đẹp.

Bạn ơi, đừng bao giờ tọa thiền giữa công chúng, hoặc với người nào, hoặc đám đông nào khác. Bạn chỉ nên tọa thiền nơi vắng vẻ, trong sự tịch mịch của trời đêm, hoặc trong sự tĩnh lặng của buổi sáng sớm. Khi bạn tọa thiền nơi vắng vẻ, phải là nơi vắng vẻ. Bạn phải hoàn toàn cô đơn, không theo một hệ thống nào, một phương pháp nào, không lập đi lập lại lời nói, không theo đuổi một ý tưởng, không uốn nắn tư tưởng theo ý muốn của bạn.

Sự tĩnh lặng này sẽ tới khi tâm trí bạn đã được giải thoát khỏi sự suy nghĩ. Khi bị ảnh hưởng bởi lòng ham muốn, hoặc những điều mà trí não bạn theo đuổi, dù là trong tương lai hoặc quá khứ, bạn sẽ không có được sự tĩnh lặng. Chỉ trong sự mênh mông của hiện tại, trạng thái đơn độc này sẽ tới. Và rồi, trong sự tĩnh lặng, tất cả mọi giao tiếp đều chấm dứt, sẽ không còn có cái người luôn theo dõi với những bồn chồn, với lòng khát khao ngu ngốc cùng với những rắc rối cuộc đời của hắn.

Chỉ khi đó, trong cái tĩnh lặng của sự đơn độc, thiền định mới trở nên một điều gì đó mà chúng ta chẳng thể dùng lời nói để mô tả. Thiền định là sự sống vĩnh cửu.

J. Krishnamurti – Freedom, Love, and Action

Người dịch : Danny Việt (ĐPK) 

Sao họ hay thay đổi ?

Hỏi:

Tôi là một phụ nữ năm nay 42 tuổi, hiện đang độc thân, ly dị sau 24 năm sống trong hoả ngục gia đình. Tất cả mọi người đều nói tôi là người có học, có nhan sắc, tôi biết giữ gìn sức khoẻ, chăm sóc con người của mình, cho nên trông bề ngoài, chẳng ai có thể biết rằng tôi đã ở tuổi này. Rất nhiều thanh niên còn trẻ đã theo đuổi tôi. Nhưng vấn đề của tôi là tôi không thể nào hiểu được những người đàn ông thuộc lứa tuổi 30, 40, 50. Sao họ hay thay đổi lắm vậy? Vừa mới tán tỉnh, thân mật ngày hôm nay, ngày hôm sau gặp lại là làm mặt lạnh, làm như không quen biết bao giờ. Thế là thế nào?

Tôi có giao du với một ông vào khoảng 50 tuổi, trong vòng 8 tháng. Ông ta nói yêu tôi, không thể sống xa tôi, và bắt đầu đề cập tới hôn nhân. Vì bận rộn công việc, tôi phải xa ông chừng vài tuần, đến khi tôi gặp lại ông, ông lờ hẳn chuyện cưới xin, không hề đề cập đến chuyện này mà còn tỏ vẻ thờ ơ đối với tôi. 

Tôi lại quen biết một ông khác, ở trong lứa tuổi 40. Ông này lúc nào cũng dính với tôi như sam, làm như xa tôi thì ông chết không bằng. Lúc nào ông cũng chỉ nghĩ đến chuyện rủ tôi vào hotel hay lên giường, ngoài ra ông không nói tới chuyện gì khác nữa.

Tôi lại bắt bồ với một ông trẻ tuổi hơn tôi. Ông rủ tôi đi chơi biển với ông trong hai ngày cuối tuần. Một cuối tuần yêu đương ra rít. Thế rồi vài hôm sau gặp tôi ở phố, ông ta làm như chẳng hề quen tôi bao giờ. Tôi tiến tới chào hỏi ông thì ông ta nói xin lỗi rồi bỏ đi. Thế là làm sao?

Không có lẽ, tôi không có duyên với ai nữa hay sao? Tôi không thể nào gặp được một người yêu thương tôi thật lòng để đi nốt quãng đời còn lại?

Đáp: 

Cô viết: “ Tôi là một phụ nữ năm nay 42 tuổi, hiện đang độc thân, ly dị sau 24 năm sống trong hoả ngục gia đình’’, từ chi tiết này, tôi đóan rằng cô đã kết hôn từ năm 16 hoặc 17 tuổi và ly dị mới khỏang nhiều nhất là 2 năm, nếu cô kết hôn năm 16 tuổi, hoặc mới 1 năm nếu cô kết hôn năm 17 tuổi.

Nếu mới chỉ trong vòng 1 hoặc 2 năm mà cô đã quen biết và đặt vấn đề hôn nhân với nhiều trường hợp như vậy thì tôi e rằng chính cô cũng chưa có đủ thời gian và sự rung động để “yêu” những người đó, mà chỉ muốn “kết hôn”, có thể gọi là “kết hôn với bất cứ giá nào”.

Về phía nam giới, khi họ đã trải qua số tuổi bốn, năm chục, mà nay độc thân, thì có thể trái tim họ cũng đã từng có những thương tích với những cuộc tình trước khi gặp cô. Nay thấy cô vội vã đề cập đến “hôn nhân” thì họ bèn rút lui ngay để tránh rắc rối có thể xảy ra.

Nếu cô đã từng ”24 năm sống trong hoả ngục gia đình” thì tôi xin góp ý là với kinh nghiệm bản thân buồn thảm như thế, cô cần rất thận trọng với bước sắp tới. Nên rất thận trọng vì đây có thể là bước cuối cùng trong cuộc đời.

Thận trọng, không hấp tấp, cô hãy quen biết ai đó qua tình bạn, rồi từ từ tìm hiểu, coi người này có thể cùng mình đi hết cuộc đời chăng, họ có yêu mình và mình có yêu họ chăng.

Có câu ngạn ngữ là “Hãy cùng ăn với nhau hết một ký muối rồi hãy xét đóan con người”. Thời gian để cùng nhau ăn hết một ký muối cũng khá lâu, đủ để nhận xét đối phương. Nhưng cũng không nhất thiết phải “ăn với nhau hết một k‎ý muối” e rằng quá lâu, chỉ cần thận trọng nhận xét một thời gian ngắn hơn cũng có thể hiểu nhau, cô ạ.

Cô đã là con chim đã bị trúng tên, đã từng “24 năm sống trong hoả ngục gia đình’’, không còn nhiều thời gian và tình cảm để phung phí nữa.

Chúc cô sáng suốt và may mắn.

Thuần Nhã (ĐPK)  

 

Nói Nhỏ Với Nhau

Mỗi xã hội đều có những nguyên tắc sống mà mọi người phái tuân thủ để không bị cô lập, bị tách rời ra khỏi cộng đồng. Nguyên tắc sống này bao trùm tất cả mọi lãnh vực, từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, từ chuyện nhỏ như xỉa răng cho tới chuyện lớn như phép xử thế đối với tất cả mọi người, từ kẻ ăn xin cho tới bậc vua chúa.

Mỗi người đều có thể được giáo dục nguyên tắc sống này từ gia đình hoặc nhà trường, – nói gọn là phép lịch sự — và được coi là người có giáo dục. Tuy nhiên, đời sống bận rộn, lắm khi do hối hả đã khiến cho một số người quên mất những điều đã học.

Trong những ngày Xuân, chúng ta luôn có những tiệc tùng, hội họp, ăn uống vui đùa cùng bằng hữu thân nhân để xả hơi cho tâm hồn được thỏai mái sau một năm làm việc cực nhọc. Cho nên chúng ta nhắc nhở nhau một vài điều cần thiết trong cung cách ứng xử hằng ngày mà nhiều khi đã bị lãng quên, thiết tưởng dù dư cũng còn hơn thiếu.

Có câu “Đói ngày giỗ cha, No ba ngày Tết”, ý nói dù nhà nghèo, ngày giỗ cha cũng phải nhịn đói để nhường thực phẩm cho khách, còn ba ngày Tểt thì đi đâu cũng được gia chủ mời ăn nên lúc nào cũng được no nê. Vậy nên chúng ta hãy cùng nói nhỏ với nhau khi có dịp gặp gỡ bạn bè, người thân ăn uống để mà “ăn uống sao cho coi được “.

Thỉnh thoảng Hương có dịp xem một vài phim ngoại quốc, nhìn thấy cách ăn uống của người Tây Phương thường rất êm đềm, nhỏ nhẹ, không nghe tiếng ly tách thìa muỗng chạm vào nhau, khi nhai thì miệng luôn kín đáo và họ chỉ nói khi miệng đã trống, không còn thức ăn.

Nhưng một vài phim của nước Á Châu kia lại cho thấy hành động khá tương phản. Như trong một màn chiếu lên thấy có cái món lấy rau cuốn thịt. Một diễn viên bảo người mà họ muốn tíếp đồ ăn hãy há mồm lên tiếng a. . . a . . . a . . . . Khi mồm người kia đã há rộng, diễn viên sắm vai người bạn tốt bụng bèn nhét ngay cả một búi rau cuốn thịt vào mồm kẻ đang há to. Phim là giả tưởng, nhưng nếu phô bầy cái “văn hóa ăn” kiểu này thì ngoài đời sẽ có lắm kẻ đến chết nghẹn mất thôi!

Hoặc giả có một màn trình chiếu cái món gì giống món lẩu, nhưng lại là một nồi sôi sùng sục đề ngay giữa bàn, mọi người đều cho luôn cái muỗng riêng của mình vào chắt một muỗng đem ra húp sùm sụp khoái trá, rồi cứ thế vục muỗng vào nếm tiếp, nếm tiếp…. Ôi ! Như thế thì cả bàn tiệc chung vui lại có dịp thưởng thức chung cả đám vi khuẩn từ miệng của nhau chăng?

Vậy thì truyền thống ăn uống của người Việt Nam chúng ta khi ăn chung với nhau có như vậy không ?

Trước nhất, nói về đại gia đình Việt Nam gồm 3 thế hệ là ông bà, cha mẹ, con cái. Trong bữa ăn, cả nhà đều quây quần với nhau quanh một mâm cơm hay bàn ăn.

Khi ngồi vào bàn, chỗ ngồi danh dự sẽ dành cho ông bà, nếu không có ông bà thì là chỗ của cha mẹ. Cạnh ông bà là cha mẹ, rồi mới tới các con ngồi chung quanh. Trước khi ăn, cha mẹ mời ông bà :

- Mời thầy mẹ (hoặc có khi gọi thay con bằng đại danh từ “ông bà”) xơi cơm.

Có nơi nói là:

- Mời ba má dùng cơm … vân …vân. . .

Sau khi cha mẹ mời, tới phiên các con mời ông bà, rồi tới mời cha mẹ, rồi tới các em nhỏ mời ông bà, cha mẹ và các anh, các chị. Sau đó, bữa ăn mới bắt đầu.

Có người thắc mắc:

- Sao lại phải “mời” như thế cho nó mất thì giờ?

- Ấy nhưng chính cái đó gọi là lễ giáo đấy !

So với thởi giờ mà ông bà, cha mẹ đã dùng để làm lụng cực nhọc nuôi con thì thời giờ “nói lên lời mời” của con cháu chỉ là một khoảnh khắc rất nhỏ. Mà tuy là khoảnh khắc nhỏ, nhưng lời mời cũng lại nói lên sự kính cẩn và lòng tôn trọng các bậc trưởng thượng,cung kính với sự có mặt danh dự của bậc trưởng thượng trong gia đình.

Tục ngữ có câu “ăn có mời làm có khiến”. Ông bà cha mẹ Việt Nam tới chơi nhà con, thường không tự mở tủ lạnh lấy đồ ra ăn, mà chỉ thưởng thức đồ ăn do con cái đem ra bày lên bát đĩa khay chén đàng hoàng. Câu “miếng ăn là miếng nhục “, “miếng ăn là miểng tồi tàn” thường được thế hệ xưa khắc ghi trong tâm và truyền cho con cái phải ghi nhớ.

Cho nên, trong bữa ăn thường ngày, chỉ sau khi các con mời rồi, cha mẹ mới cầm đũa, và chỉ sau khi cha mẹ nâng bát cơm lên, con cái mới bắt đầu ăn, đó là tác phong, là thói quen của các gia đình nền nếp.

Nhân nói đến việc “mời”, xin kể một câu huyện vui do hiểu lầm.

Trong một kỳ họp mặt bạn bè, nhân ngà ngà say, ông bạn miền Nam chỉ ngay một ông Bắc Kỳ và cất giọng lè nhè:

- Mấy cha giả dối thấy bà. Đang ăn cơm ngon lành mà có người ghé chơi, bày đặt “mời anh dùng cơm”. Người nghe tưởng thật, bèn ngồi xuống tính ăn. Thế là cả nhà ngơ ngác nhìn nhau, nồi cơm trơ ra miếng cháy mà mời cái giống gì? Đúng là mời rơi, cái đồ nói dóc!

Ông bạn Bắc Kỳ cườỉ chẩy nước mắt, lấy khăn ra chùi rồi mới giải thích:

- Ối ông ơi, mấy cha nhớ lộn, “chữ tắc đánh ra chữ tộ, chữ ngộ đánh ra chữ nị” nó hại ông rồi. Bắc Kỳ chỉ “mời” những người cùng ăn thôi. Còn nếu họ đang ăn mà có ai ghé chơi thì họ chỉ nói: “Xin thất lễ… ” hoặc: “Xin vô phép . . . ” . Câu ấy có nghĩa là “tụi tôi xin lỗi quí vị để được tiếp tục ăn, quí vị cảm phiền ngồi chơi.”, chứ không có vụ “mời anh cùng ăn”.

Khi mọi người đang ăn thì không có chuyện “mời” người khác nhào vô ăn ké. Làm gì có chuyện đang ăn lại dám mời khách vào mâm cơm đang ăn giở của mình, bộ tính mời họ ăn đồ thừa à ?

Lại có thắc mắc “Sao phải nói xin thất lễ” với “xin vô phép”?

Thưa rằng “ Khách đến chơi mà không tiếp, ngồi ăn tỉnh bơ là thiếu lễ, cho nên phải xin lỗi là đúng rồi ”

Nay nói tới chuyện được mời ăn tại nhà bạn bè hay thân nhân. Theo đúng lẽ thì ta nên đến sớm chừng 5 hoặc tối đa là 10 phút, đừng sớm quá làm cho người ta phải tiếp mình, gây bận rộn cho người ta, hoặc bà chủ nhà chưa kịp trang điểm chút đỉnh, đầu tóc còn đang bơ phờ vì việc bểp núc.

Tuy nhiên cũng đừng tới muộn khiến cho cả bàn tiệc phải chờ mình. Có người cho rằng đến muộn một chút chứng tỏ mình là nhân vật quan trọng. Rất không nên, đúng giờ là một trong những phẻp lịch sự của bậc đáng kính.

Khi được chủ nhân mờỉ vào bàn tiệc, nên chờ quí vị tu sĩ, quí vị cao tuổi ngồi xuống trước rồi mình mới ngồi.

Vào bàn, nên ngồi ngay ngắn trên ghế, không ngả nghiêng, không bò ra, không chống khuỷu tay lên bàn. Trong khi ăn, nên giữ sự hòa nhã, nhẹ nhàng, không nói năng ồn ào, không nói với sang phía xa, chỉ nói khi đã nuốt hết đồ ăn trong miệng.

Nên dùng muỗng hoặc đũa chung lấy đồ ăn từ đĩa hoặc khay chung cho vào đĩa hoặc bát riêng của mình rồi mới kín đáo gắp đưa lên miệng, không há to mồm rồi nhét đồ ăn vào. Ngậm kín miệng khi nhai. Nếu ly nước có muỗng thì hãy lấy muỗng ra trước khi uống. Nếu nhấp thử thấy nước nóng thì nên để xuống chờ nguội, không thổi phù phù, không húp sụp soạp. Nếu món ăn cần phải cắt nhỏ thì chỉ cắt từng miếng, ăn xong lại cắt miếng tiểp theo, không cắt tất cả đĩa ra thành một đống. Không bỏ xương xuống mặt bàn. Không dùng đũa hay muỗng riêng của mình mà gắp hoặc múc vào đĩa hoặc tô đồ ăn chung.

Khi ăn xong, nếu cần xỉa răng thì hãy vào phòng rửa tay, tối kỵ xỉa răng trước mặt người khác, nhất là ngay trong bữa cơm.

Một điều cần nói nhỏ nhưng cũng khá quan trọng là ăn uống tại nhà bạn bè, thân nhân, nếu bàn ăn đã được bày ly, chén, bát, mình chỉ nên dùng như thế, tránh dùng giấy napkin lau lại chén, bát, đũa, muỗng của mình. Làm thế, chủ nhà sẽ buồn vì có vẻ như mình nghi nhà người ta thiếu vệ sinh, quen dùng đồ dơ dáy. Nhưng nếu ăn ở những quán như phở, bún.. vân…vân . . . thì tha hồ lau, càng lau càng sạch.

Trường hợp ăn tại các nhà hàng sang, trên bàn thay vì để giấy napkin, người ta dùng khăn ăn. Nếu vậy thì lại càng không nên lấy khăn đó mà lau bát, đũa của mình, vừa không phù hợp phép lịch sự lại vừa dơ, vì những khăn này khi giặt thường được cùng giặt chung với tất cả các loại khăn hầm bà lằng linh tinh bí hiểm, không đáng tin cậy.

Khăn ăn ở đây chỉ có nhiệm vụ lau nhẹ chút đỉnh và che cho thức ăn khỏi rơi xuống đùi, dơ quần, không phải là yếm dãi, nên xin đừng đeo lên cổ như đôi khi ta thấy có một vài vị khách trông rất đáng nể mà cổ lại cài gọn ghẽ cái khăn ăn như em bé, rất tức cười.

Ăn xong, không nên ra về ngay, mà hãy ngồi nán lại một lát để cùng nhau vài ba câu cà kê dê ngỗng rồi hãy chào từ biệt, trừ trường hơp có việc cần thiết phải đi gấp thì phải nói lời cáo lỗi.

Trước khi ra về, nên nói lời cám ơn chủ nhà một cách chân thành.

Bảo Hương (ĐPK)

 

Chuyến hải hành may mắn – Hồi ký

Khoảng 10 giờ sáng ngày 11 tháng Tư năm 1980, tôi ra khỏi nhà lần cuối. Đó là mái ấm gia đình, nơi che mưa nắng cho chúng tôi biết bao nhiêu năm trường, nơi đã cùng khóc cười với chúng tôi, chung với chúng tôi  biết bao nhiêu kỷ niệm của cuộc đời. Ở đó, chúng tôi tạo dựng ”Nhà in và nhà xuất bản Huyền Trân”, cùng với ông Nguyễn Hùng Trương, chúng tôi phát hành tuần báo Thiếu Nhi của tuổi trẻ. Vào những ngày Chủ Nhật và nghỉ lễ, căn nhà đó vang rân tiếng cười của hàng trăm độc giả, tới vui chơi, đọc sách, điều hành Tủ sách Gia đình Thiếu Nhi, đói thì chạy lên bếp lục cơm nguội chan xì dầu … ôi … biết bao nhiêu ánh mắt sáng ngời, tâm hồn trong sáng đã tỏa rực rỡ dưới mái, ngoài hè, ngoài sân của căn nhà đó.

Nước mắt lưng tròng, tôi chào từ biệt bố mẹ, trong lòng cảm thấy như đây là lời chào vĩnh biệt vì vốn được nghe kể về số phận không may của nhiều ghe đã chìm sâu vào lòng đại dương. Bố tôi đang ngồi, tôi đứng sau lưng bóp hai vai bố, thấy rung rung, có lẽ bố đang thổn thức nghĩ “biết có còn gặp lại nhau chăng?”. Vì phải giữ bí mật cho cuộc trốn chạy nên ngoài bố mẹ tôi, trong nhà không còn ai biết. Các con tôi lẻ tẻ từng người đã ra khỏi nhà như đi làm và đi học, không khác ngày thường.

Sau 9 ngày gian nguy lênh đênh trên biển, chúng tôi may mắn đã tới được bờ biển Mã Lai. Ngày 12 tháng 10, chúng tôi tới Mỹ, cả gia đình đoàn tụ tại tỉnh Portland, tiểu bang Oregon, nơi con trưởng của chúng tôi vượt thoát từ năm 1975 thuê 1 căn apartment tiện nghi cho bố cháu đã đến Mỹ trước chúng tôi mấy tháng, nay cùng chúng tôi gộp lại là đoàn tụ toàn thể gia đình.

Tháng 2 năm 1987, chúng tôi cũng bảo lãnh được bố mẹ tôi qua đoàn tụ với chúng tôi. May mà chúng tôi đã dời từ tiểu bang Oregon về miền nam California, cho nên bố mẹ tôi đã thích hợp ngay được với khí hậu ôn hòa tại đây. Bố tôi qua đời tháng 12 năm 1990, tức là được hưởng không khí tự do tại Mỹ gần 4 năm, mẹ tôi mất năm 2002, tức là mẹ tôi sống tại Mỹ 15 năm vui vẻ thoải mái với các con cháu, thưởng thức phim bộ và thỉnh thoảng giải trí với các cụ cao niên mấy trò chơi như tổ tôm và bài chược, minh mẫn với tinh thần hài hước phong phú cho tới khi mẹ tôi qua đời, hưởng thọ 97 tuổi.

Cảm ơn tất cả những ân nhân đã giúp gia đình chúng tôi tới được bờ tự do an toàn.

Cảm ơn tất cả những đất nước và con người tử tế tại các quốc gia đã cưu mang chúng tôi trong những ngày bơ vơ, rời khỏi quê hương, lang thang vô định.

Cảm ơn đất nước Hoa Kỳ đã đưa vòng tay ra ôm lấy chúng tôi, đã giúp đỡ chúng tôi những ngày đấu ngơ ngác bước vào một xứ sở lạ lẫm, nhìn ra chung quanh chỉ thấy những con người với hình dáng xa lạ, nhưng lại có những ánh mắt ấm áp, đã dìu dắt chúng tôi từng bước hội nhập vào một thế giới mới nhưng đầy ắp tình người.

Bây giờ ngồi đây gõ keyboard, tôi muốn thắp nén hương lòng, quay về quê hương xa xôi của tôi, nước mắt lưng tròng, trước nhất tôi muốn dâng lên lời cảm tạ sâu xa nhất từ đáy lòng, cảm tạ liệt vị Tiền Nhân Tổ Tiên đã hun đúc cho tôi giữ được niềm tự hào là một người Việt Nam xứng đáng với danh dự của một con người.

Sau Tiền Nhân Tổ Tiên, tôi muốn dâng lên lời cảm tạ sâu xa tới những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, dù đã qua đời hoặc còn sống, qu‎ý‎ vị đã xông pha trận mạc, hy sinh thân mạng để giữ cho đất nước Miền Nam được sống tự do hạnh phúc suốt trong mấy chục năm trường, từ 1954 cho tới 1975, trước khi Saigon sụp đổ.

Xin cảm tạ, muôn vàn cảm tạ.

Đỗ Phương Khanh

***

Cảm ơn đất nước Mã Lai và đảo Pulau Tengah 

Nơi ghe tỵ nạn của chúng tôi vào được đất liền là đảo Pulau Tengah, cảnh và người đều vô cùng đẹp và tốt lành. Dù tôi chỉ ở đó khỏang trên 5 tháng, từ 20 tháng Tư đến đầu tháng 10 năm 1980 thì mẹ con chúng tôi được đưa qua Sungai Besi chờ chuyến bay để đi Mỹ đòan tụ với gia đình, nhưng trong tâm khảm tôi chưa bao giờ quên những ngày xa xưa ấy, những ngày mà các bạn đồng cảnh ngộ đã cùng chúng tôi ngọt bùi an ủi lẫn nhau tại hòn đảo nhỏ, vọng về quê hương xa tít mù khơi, hòn đảo đó tên là Pulau Tengah thuộc nước Mã Lai Á (Malaysia).

***

Tôi xuống ghe SS56 vào ngày 11 tháng Tư, lái ghe là anh Hùng, một học trò cũ của bố xấp nhỏ nhà tôi tại “bãi đánh” gần Bà Rịa (hình như thuộc Phước Tuy). Đi được 7 ngày thì thấy Singapore, đáp vào tưởng ngon lành, ngờ đâu lính tuần duyên lái tầu tuần chạy ra nhảy xuống ghe bảo bọn tôi phải vào “Trại” ở phía bên kia. Bọn này hí hửng yên chí qua được “phía bên kia” là sẽ lên bờ, một cô vui vẻ trẻ trung còn “hồ hởi phấn khởi” cười nói:

- Tới trại mình tót ra đi nhảy.

Ai cũng vui quá, lúc đó là khỏang 6 giờ chiều. Tụi lính ròng dây chão từ tầu của họ xuống ghe mình bảo là để đi cho nhanh.

Nhưng cứ thấy đi mãi mà chưa thấy “trại”… Đương lúc cả bọn băn khoăn thì mấy tên lính Singapore nhảy xuống bảo đưa la bàn và bản đồ cho họ, xong họ cho thêm dầu vào ghe mình rồi nhảy lên tầu của họ ném thực phẩm xuống, chặt đứt dây, chỉ tay về phía nào đó bảo là phải đi Indonesia kẻo họ bắn. Rồi tầu họ bỏ chạy. Ghe tụi mình đuổi theo, họ quay lại bắn lia chia. Tài công sợ quá vội chạy dạt ra.

Qua ngày hôm sau bà con thấy la bàn và bản đồ đã mất, bọn mình thất vọng quá nhao nhao bàn quay về Thái Lan. Tôi bèn tới chỗ Hùng ngồi đề nghị:

- Hùng à, chú là học trò của Thày, tôi trông cậy vào chú. Nay chú nghĩ tình thày, đi tới thêm 1 ngày, nếu còn vô vọng thì tôi không yêu cầu gì nữa.

Hùng khẳng khái:

- Em đi với cô thêm đúng 24 tiếng, nếu không còn hy vọng thì em quay lại.

(Hùng ơi, cô hết lòng cảm ơn em, đã trên ba chục năm trường, chưa bao giờ cô quên tấm lòng của em đã vì nghĩ tới thày mà nghe theo lời cô yêu cầu. Em ở Na Uy, có khi nào đọc được những dòng này, nhớ liên lạc với thày cô em nhé).

Nhắc đến chuyện này tôi xúc động lắm, muốn khóc.

22 tiếng đồng hồ sau, vào lúc 4 giờ chiều, ghe chúng tôi gặp một ghe đánh cá người Mã Lai. Chúng tôi vẫy, họ xáp lại, một người bên ghe chúng tôi nhảy qua thảo luận, họ đòi cho họ 2 nhẫn vàng, chúng tôi vội giao ngay, họ bèn chạy ghe họ phía trước, chúng tôi theo sau. Khỏang một lúc lâu, trời gần tối, xa xa chúng tôi nhìn thấy dẫy lều màu xanh nhạt, họ chỉ chỉ ra hiệu rồi đưa tay lên cổ ý nói đó là trại tỵ nạn họ không dám giúp chúng tôi tới gần hơn, sợ lính chặt cổ.

Chúng tôi biết đã thóat chết, chắp tay vái chào họ rồi tài công cho ghe từ từ đi vào, tới gần bờ chúng tôi nhảy xuống nước lội. Trong trại cử người ra đón.

Thóat chết.

Trại đó nhỏ, gồm Bắc Đảo, Trung Đảo và Nam Đảo. Hồi cao điểm là năm 1978, do phong trào đi bán chính thức, có lúc chứa tới trên 10 ngàn người. Khi chúng tôi tới là năm 80, người ta đã đi định cư gần hết, chỉ còn khỏang 3 ngàn thôi. Tôi còn nhớ có gia đình hai bác Đào Đức Hoàng và bà ngọai là mẹ bác gái hiền lành tốt bụng, có BS Phan Hồng Huấn và 2 cô con gái rất xinh và nhiều người hiền lành tốt bụng lắm.

Vì lúc ấy đảo còn ít người nên Cao Ủy Tỵ Nan muốn các cháu bé ổn định sự học. Nhân thấy lý lịch tôi khai là giám đốc trường Mẫu Giáo ở Saigon, họ yêu cầu tôi ra mẫu bàn ghế Mẫu Giáo rồi họ sắp xếp ban thợ mộc trong đảo đóng bàn ghế cho các cháu ngồi, để tôi có thể cùng hai cô giáo tiếp tục sự học của các cháu.

Có một kỷ niệm tôi nhớ mà cứ cười hòai, số là có một em còn nhỏ xíu mà rất hay chửi thề, huấn luyện mãi không được. Một bữa tôi dọa:

- Con mà nói bậy nữa madame sẽ mách ba con.

Cậu bé cười toe:

- Ba cũng nói vậy à … hihi ..

Bác Hoàng giỏi tiếng Anh, làm Trại Trưởng, mở lớp dạy tiếng Anh mini trong lều của bác. Do sự siêng năng của gia đình bác nên tuy gọi là “lều” chứ coi cũng khá tươm tất nên mới có đủ chỗ cho chúng tôi ngồi. Bác dạy rất kỹ, luyện giọng rất nhuần nhuyễn, bắt “học trò” nhắc lại nhiều lần.

Âm giọng bác theo tiếng Anh vì hồi trước 75, ở trong nước chúng ta vỡ lòng tiếng Anh bằng mấy bộ Anglais Vivant Bleu và Beige …, nên phát âm kiểu Anh (thí dụ như giọng thái tử Charles). Bác bắt uốn lưỡi, nhấn giọng rất cẩn thận. Trong đám “học trò” bọn tôi có cả bà ngọai vì bà rất hiếu học. Một bữa bác dạy kỹ quá, đòi bà nhắc đi nhắc lại, nhấn giọng, uốn lưỡi mãi, bà giận đứng phắt lên, đi một hơi ra đường, chúng tôi sợ xanh mặt.

Bà rất hiền và tử tế. Hôm chúng tôi mới nhập trại, được phát cho một căn lều trống hốc trống huếch, vì khi người ở trước đi định cư thì những người còn lại cứ việc vào căn lều hoang “dọn dẹp”. Bà thấy mấy mẹ con tôi bơ vơ, bà thương cảm, bèn cùng các cháu đi lượm những miếng nylon, những bao bố, mảnh ván khắp nơi về vá víu căn lều cho ấm cúng.

(Bà ngọai và gia đình bác Hòang ơi, ĐPK và các con xin muôn vàn cảm tạ quý vị).

Lều của chúng tôi sát biển, chúng tôi thường lội xuống rửa chân. Có một đêm nước biển tràn lên quét luôn đám nồi niêu bếp núc của chúng tôi đi, sáng dậy thấy rải rác lền khên trên bờ biển.

Có người kể với chúng tôi là nghe đồn mấy năm trước vào lúc cao trào đi bán chính thức, Mã Lai lúc đó chưa có quy chế chấp nhận người tỵ nạn nên có một số ghe đã táp vào bờ rồi nhưng lại bị tầu tuần lôi ra, kéo nhanh quá nên chìm, chết từng mấy trăm người một. Sau đó, vào những đêm mưa gió biển động, nhiếu hồn ma hiện lên trên biển khóc than thê thảm lắm.

Nhưng ĐPK tôi và các con thì chưa ai chứng kiến những chuyện đó bao giờ.

Có lẽ tôi cần trình bày sơ qua về địa hình đảo Pulau Tengah. Theo tên gọi Bắc đảo, Trung đảo và Nam đảo thì có vẻ như là 3 đảo hoặc 3 khu vực, nhưng thực tế chỉ có nghĩa là phần phía Bắc hoặc ở giữa (Trung) hoặc phía Nam của đảo Tengah mà thôi.

Vào thời kỳ có phong trào ra đi bán chính thức thì người tỵ nạn lúc đó phần lớn là dân Chợ Lớn, gốc Hoa, vốn giầu có và là những người tiên phong vào đảo, cho nên họ được chia nơi tạm trú ngay tại Bắc đảo, là sát với cầu tầu, dân tỵ nạn từ ghe leo lên cầu là bước chân vào Bắc đảo.

Nhờ dân tỵ nạn gốc Hoa tiền bạc rủng rẻng và đôi khi cũng có những liên hệ bằng hữu với dân Mã Lai gốc Hoa bản xứ nên đời sống cũng dễ chịu, đảo Tengah cách đất liền 1 giờ rưỡi đường tàu thủy nên ghe thương lái đem sản phẩm vào bán cũng được lính gác Mã Lai du di, cho nên hoặt động nơi Bắc đảo vui vẻ tấp nập, tạm ví như khu phố Lê Lợi ở Saigon.

Trung đảo là tên gọi để chỉ khỏang cách giữa Bắc và Nam đảo chứ không có người ở. Thực tế, Trung đảo là một cái đèo nhỏ vươn lên hơi cao chia đôi Bắc và Nam đảo, đỉnh đèo vươn cao nhìn thẳng xuống lòng biển nên thỉnh thỏang có một vài cậu thanh niên ra bờ vực nhảy plongeon xuống biển. (Sau này khi chúng tôi đã rời đảo, nghe bà con sang sau kể lại rằng có một cậu trai đã nhẩy từ mỏm đèo Trung đảo, lao xuống biển chẳng may gặp đá ngầm, vỡ sọ mà qua đời).

Tuy gọi là “đèo”, nhưng chỉ lên xuống dốc sơ sơ thôi, mấy mẹ con chúng tôi thường rủ nhau ra đó leo lên đèo qua phía bên kia rồi lại leo về để tập thể thao.

Nam đảo là khu an tịnh, lều trại sơ sài vì mỗi khi có người được đi định cư thì bà con lại “cải thiện đời sống” bằng cách tiến lên thừa hưởng những tiện nghi bỏ lại. Mẹ con chúng tôi đến sau, khi trại đã gần vãn tuồng, nên được giao cho căn lều gần cuối Nam đảo, trấn thủ con đường độc đạo đi ra dãy phòng “Thủy tạ Nhẹ Khỏe” bắc chênh vênh trên biển, trống thiên trống địa.

Lều tôi có ba cô nhóc từ 14 đến 17 rất là nghịch ngợm, sáng sáng các cô bắc ghế đẩu ra điểm danh tình trạng sức khỏe của bà con Nam đảo và kiểm tra dân số đi hàng một qua lều, tay mỗi người phe phẩy mảnh giấy báo. Có hôm tôi nghe la tóang: “Mẹ ơi Chế Linh”, tôi cũng thấy “phấn khởi”, bèn quơ dép phóng ra phía trước, thì quả nhiên thấy có một đám bụi mù tràn qua, Chế Linh đi trước, theo sau là một dẫy bà con cười đùa ồn ào, mỗi người đều có mảnh giấy báo hộ thân (kể cả danh ca Chế Linh … hihi …).

Đảo Tengah rất nhỏ và đẹp nên sau khi giải tán trại, nhà nước Mã Lai sửa sang thành khu du lịch. Tôi hỏi thăm thày Gu Gồ kiếm được mấy hình

Pulau Tengah Refugee CampMalaysia

http://www.refugeecamps.net/TengahStory.html

Nói chuyện tỵ nạn mà quên một vai trò quan trọng thì thật là … tội lỗi… tội lỗi … Đó là vai trò mà tất cả dân tỵ nạn chúng ta không thể không có và không thể quên, nhân vật đó là “bông-xoa” (sponsor, người bảo lãnh), ở đảo chúng tôi không nói tiếng Anh phiền phức mà cứ gọi là “bông-xoa”.

Những người có thân nhân ở ngọai quốc thì không phải lo vì đã có thân nhân bảo lãnh. Trường hợp không có thân nhân ở ngọai quốc thì chỉ trông mong thần may mắn dun dủi, gặp được “bông-xoa đại nhân” đàng hòang mà thôi.

Tôi không biết gì nhiều về các quy chế tỵ nạn, hành chính linh tinh, chỉ buồn vui theo gương mặt những bạn láng giềng trên đảo sau những buổi bà con được Cao Ủy Tị Nạn phỏng vấn. Và tôi cứ nhớ mãi cụm từ “bông xoa lủng”. Đó là trường hợp những người đã được báo tin là có sponsor rồi , nhưng bỗng sau đó lại được tin sponsor từ chối không bảo lãnh nữa. Hòan cảnh chúng tôi lúc đó rất thất thế… chờ đợi … chờ đợi rồi chẳng may thất vọng thì … rất buồn.

Nhưng đời không bắt ai phải buồn hòai, ngòai niềm mơ ước vĩ đại là được sớm đi định cư, chúng tôi cũng có những niềm vui nho nhỏ, đó là vào mỗi Thứ Tư, chúng tôi được tầu thủy nhỏ của Cao Ủy ghé qua mang theo thư gửi tới cho chúng tôi và nhận thư của chúng tôi viết cho thân nhân để gửi giúp chúng tôi.

Lều tôi tận cuối Nam đảo nhưng loa phóng thanh vẫn vọng tới. Những ngày đó chúng tôi vui vẻ tưng bừng chờ đợi từ sáng, khỏang 2 giờ chiều thì có tiếng rọt rọet thử loa, rồi tiếng gọi tên vang lên … ui da… chúng tôi rất vui vì tuần nào cũng có thư.

Tầu đưa thư đồng thời cũng tiếp tế đồ ăn tươi cho chúng tôi. Mỗi tuần khẩu phần mỗi gia đình chúng tôi trung bình có chừng nửa con gà nhỡ nhỡ, dân Mã Lai nhiều người theo đạo Hồi không ăn thịt heo cho nên họ không phát thịt heo, chỉ có gà thôi. Chúng tôi cũng được phát mấy trái cây và mấy mớ rau.

Thịt gà thì tôi kho mặn, cũng ngon lắm. Nhưng rất vui là một bữa kia có ghe nhập trại, trên ghe có nhà công nghệ giò chả Phú Hương. Vừa mới nhập trại một tuần, ông đưa ra ý kiến: “Ai muốn ăn giò gà thì ông chế biến giúp cho”.

Thế là chúng tôi ùa nhau giao thịt cho ông làm thành giò sống để nấu canh và chiên lên thành “chả gà chiên”, ăn ngon tuyệt… Cảm ơn ông Phú Hương.

Nhân nói đến “thịt”, tôi lại nhớ cái ngày ghe chúng tôi bị tầu tuần Singapore lôi ra biển, trước khi chặt đứt dây chão từ ghe chúng tôi nối vào tầu lớn, họ ném xuống cho chúng tôi rất nhiều đồ hộp, và nói ra qu‎ý‎ vị đừng cười, họ ném xuống cả một bịch giấy cuộn để đi vệ sinh (nôm na là đi cầu), ui da, chúng tôi còn bụng dạ nào mà đi đâu cho nổi!!!

Thế rồi chỉ hai ngày sau chúng tôi vào được Mã Lai, thịt hộp còn nguyên. Khi lính tuần duyên Mã Lai xuống lục sóat, việc đầu tiên là họ ném tuốt luốt tất cả những hộp thịt xuống biển… ui da … tiếc ơi là tiếc …

Tôi lại mới nhớ ra một việc, phải cảm ơn cậu Trưởng ban Tiếp Tân tốt bụng. Khi ghe chúng tôi cập bến, cậu cùng lính tuần duyên Mã Lai nhẩy xuống đầu tiên. Chỉ sau một cái liếc, cậu nói giọng rất nhẹ:

“Bà con cất bớt vàng đi, họ sẽ thu lại để giữ giùm, nhưng cất trong mình vẫn chắc hơn”.

Thế là trong khi lính còn lục sóat kiểm tra thì mấy bà bạn đồng hội đồng thuyền của tôi đã tẩu tán không còn dấu vết.

Nếu không có cậu nhắc nhở thì vài quý bà khá giả đi trên ghe chúng tôi không biết có còn được đeo dây chuyền và lắc vàng loang lóang nữa chăng, quý bà ngây thơ hồn nhiên mà có vị còn mang cả dưa leo để đắp mặt bảo vệ da khỏi bắt nắng trên biển, chao ôi, vị nào tình cờ đọc tới đây thì cười xòa mà đừng giận tôi nhé, nhưng quả thật quý vị đã quá may mắn đấy ạ.

ĐPK