Bài 11 – Trưởng tử Như Lai – Đạo Sư

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Sau bài nói về Tu viện Shasta, về Ni Sư Jiyu Kennett và môn phái thiền Tào Động tại Mỹ, chúng tôi nhận được thư quý khán thính giả gửi về hỏi thêm chi tiết về tu viện Shasta để có thể tới tham dự một kỳ tĩnh tâm (retreat). Vì thế, chúng tôi xin trình bày thêm như sau:

Tu viện được thiết lập trên sườn núi Shasta, cực Bắc của tiểu bang California, tại tỉnh Mount Shasta, cách San Jose, California  300 miles và cách Orange County, Califonia 630 miles.

Nếu quý khán thính giả muốn liên lạc với tu viện bằng thư tín, xin theo địa chỉ:

Shasta Abbey
Attn: Guest Master,
3724 Summit Drive,
Mt. Shasta, CA96067

Hoặc bằng điện thoại số : (530) 926-4208;

Fax số  (530) 926-0428.

Địa chỉ  E-mail: shastaabbey@obcon.org

Nếu quý vị sử dụng computer, xin vào webpage:

www.obcon.org

Kính thưa quý vị,

Như chúng tôi đã trình bày với quý vị, rằng suốt thời gian trên bốn chục năm ròng rã thân hành đi khắp gần xa để truyền dạy, những lời vàng ngọc của đức Phật đã được chư đệ tử nhập tâm, các vị này lại truyền xuống cho đệ tử, rồi được tuyên đọc trong các kỳ kết tập kinh điển, tổng hợp thành tạng Kinh, là một trong Tam Tạng, thì nhiều vô số kể. Tuy nhiên, cốt tủy tất cả những lời dạy đó được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

– Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

– Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

– Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

– Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế  ( Đế nghĩa là Chân Lý).

Có người mới nghe nửa câu nói của đức Phật “chỉ dạy về Khổ” thì cho là quan điểm của nhà Phật về cuộc đời rất bi quan, tiêu cực. Nhưng nếu nghe thêm phần sau Ngài nói “và dạy Con Đường Diệt Khổ”, thì sẽ thấy ngay rằng đức Phật rất tích cực muốn cải thiện đời sống để mọi người được hết khổ.

Hành trang trên “Con Đường Diệt Khổ” có 37 phẩm trợ đạo, là những bài phân tích chi tiết cần thiết để giúp hành giả thực hiện thành công trên con đường giác ngộ. Đại cương, có thể thu gọn trong bài kệ:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.”

Noi theo gương đức Phật, các vị Sứ Giả Như Lai là chư Tăng Ni dùng đời sống của mình để tu hành tới giác ngộ giải thoát, đồng thời trong khi tu tập, quý vị Tăng Ni cũng dẫn dắt chúng sinh bằng cách giảng giải lại cho Phật tử hiểu thấu đáo những lời đức Phật dạy.

Đến đây, chúng tôi xin được trình bày thêm về ý nghĩa của một vài từ ngữ trong nhà Phật, thí dụ chữ Sư.

Thưa quý khán thính giả,

Thật ra thì chữ Sư vốn rất dễ hiểu, chúng ta thường dùng hằng ngày, ai cũng biết sư tức là thày. Sở dĩ phải trình bày cho rõ vì từ Sư trong nhà Phật đã bị  hiểu lầm.

Chữ Sư – nghĩa là thày — trong nhà Phật rất cao quý.

Mục tiêu của đạo Phật là giác ngộ giải thoát. Thời Phật còn tại thế, Ngài thân hành dạy chư đệ tử đường lối tu hành để giác ngộ giải thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Nhưng Ngài không thể dạy tất cả thế gian và thông suốt ba thời là quá khư, hiện tại và tương lai, cho nên Ngài đã ủy thác cho chư đệ tử tiếp nối con đường của Ngài để soi sáng cho chúng sinh sau này. Vì thế, các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt các em ra khỏi bến mê.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Cho nên chúng tôi đã thưa rằng từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Sư là Thày dạy đạo, đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chấm dứt trôi nổi trong vòng luân hồi. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, địa vị của Tăng Ni được coi rất trọng. Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni  4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi bến mê, bước lên bờ giác, chấm dứt mọi nỗi đau khổ. Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường.

Nhiệm vụ của Tăng Ni thì cao quý và được Phật tử tôn trọng như thế. Vậy thì, nếu có người tu hành nào đã nhận trọng trách làm Trưởng Tử Như Lai, đã nguyện giữ những giới răn, đã khoác tấm y giải thoát của nhà Phật mà không làm tròn nhiệm vụ Đạo Sư, lợi dụng sự được cung kính tôn trọng để thủ lợi, hoặc không thực hành đúng Chánh Pháp, thì đó là họ đã đi sai đường, mắc vào tội “lạm nhận cung kính” vì bản thân không xứng đáng nhận sự lễ lạy, cung kính, và “hư tiêu tín thí”, vì bản thân không thực hành nhiệm vụ cao quý, nên coi như phí phạm phẩm vật cúng dường của thí chủ.

Chúng ta nên sáng suốt nhận định, chỉ cung kính cúng dường quý vị Tăng Ni giới đức trang nghiêm và thực hiện nhiệm vụ Đạo Sư cao quý mà thôi.

Thưa quý khán thính giả,

Để có thêm tài liệu về “Con Đường Diệt Khổ”, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp trích trong cuốn “Mind, Overcoming its Cankers”, tác giả là hòa thượng Acharya Buddharakkhita, tỳ khưu Pháp Thông dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng Acharya Buddarakkhita là một bậc đạo sư danh tiếng trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, chủ tịch sáng lập hội Maha Bodhi Society tại Ấn Độ. Trước khi xuất gia, vào thời gian Thế Chiến Thứ Hai, ngài là một kỹ sư phục vụ tại bộ Quốc Phòng. Do mắt thấy những sự tàn phá, đau đớn, chết chóc kinh hoàng của chiến tranh, tâm tư ngài bị chấn động, cảm thấy muốn tìm về con đường tâm linh. Rời bỏ chức vụ kỹ sư, ngài trở thành nhà sư Phật giáo, tận lực nghiên cứu Phạn ngữ và hành trì thiền tập với thiền sư danh tiếng Mahasi Sayadaw tại Miến Điện. Ngài từng dạy Phật pháp tại trường Phật học Nalanda, viết nhiều sách luận giải và dịch kinh sách từ tạng Pali qua tiếng Anh, được xuất bản tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó có những cuốn được nhiều người biết như The Dhammapada – The Buddha’s Path of  Wisdom. Ngoài ra  còn các cuốn quan trọng như  ‘The Living Legacy of the Buddha”, “’Mind, Overcoming its Cankers” và “Karma and Rebirth”.

Ngài là một học giả đồng thời là hành giả, đem tất cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giác ngộ giải thoát mình và dìu dắt người khác cùng đi, chỉ đạo cho lớp tu sĩ trẻ bước trên con đường giác ngộ bằng thiền quán cùng lúc với chính bản thân tận lực hành trì.

Sau đây là nội dung bài pháp của hòa thượng Acharya Buddharakkhita:

“Người ta thường cho rằng vấn đề tốt và xấu chỉ là khái niệm phỏng chừng, rằng trong thực tế, cái gọi là tốt hay xấu ấy không hiện hữu. Hay nói cách khác, phải – trái, tốt – xấu, là những khái niệm có giá trị quy ước chứ không có sự đồng ý tuyệt đối.

Không gì có thể vượt ra ngoài sự thực. Vì, nếu không có những thực chất tốt và xấu như vậy trong ý nghĩa tuyệt đối, ắt hẳn sẽ không có những vấn đề như khổ đau và hạnh phúc, nghèo và giàu, đẹp và xấu, bịnh hoạn và khoẻ mạnh trong thế gian này. Những bất bình đẳng mà người ta thấy trong cuộc đời, chỉ nhằm diễn đạt cái sự thực về vấn đề nhân quả được gọi là nghiệp trong đạo Phật mà thôi. Và đạo đức học chính là ngành khoa học nghiên cứu về thiện – ác, tốt – xấu này.

Ðức Phật rất thẳng thắn về điểm này. Ngài loại bỏ tất cả mọi tư tưởng mơ hồ và mâu thuẫn về những vấn đề liên quan đến luân lý, được xem là rất thịnh hành trong thời đại của Ngài. Ngài nhấn mạnh rằng có hai con đường hoàn toàn rõ rệt và đối nghịch lẫn nhau — hắc đạo và bạch đạo.

Ðây không phải là những con đường phỏng chừng, cũng không phải là những khái niệm hay qui ước đơn thuần. Nó là những sự thực, chúng hiện hữu trong thực tại như những thế lực thiện và bất thiện, như những pháp công đức và phi công đức biểu thị ra bằng hạnh phúc và khổ đau, bằng tiến bộ và thoái bộ.

Trong một câu kệ Pháp Cú ý vị, đức Phật với thái độ hết sức rõ ràng đã chỉ ra:

“Bậc trí bỏ pháp đen
Tu tập pháp thuần trắng.”

Khi người ta hiểu một cách chân chánh và đầy đủ rằng luân lý và đạo đức đề cập đến những giá trị và những pháp tuyệt đối, và những vấn đề như phải – trái, thiện – bất thiện, đen – trắng, công đức và phi công đức không phải là những chuyện hư cấu mà là những điều kiện thực tế, chỉ khi ấy họ mới có thể hiểu được tâm và vận hành của nó. Vì những lực đối nghịch này xuất phát từ tâm. Chúng do tâm tạo, như đã được xác định rõ trong hai bài kệ đầu tiên của kinh Pháp Cú :

“Ý  dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý bất tịnh,
Nói lên, hay hành động,
Khổ não liền theo sau,
Như xe, chân vật kéo.”

“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên, hay hành động,
An lạc liền theo sau
Như bóng, không rời hình.”

Như vậy, chỉ sau khi khởi lên trong tâm rồi chúng mới kết tinh lại như hai mô thức tác nghiệp rõ rệt mà trong Phật Giáo gọi là thiện nghiệp đạo và bất thiện nghiệp đạo. Chính vì vấn đề này mà tất cả mọi cố gắng trong đời phạm hạnh đều nhắm vào việc thành tựu sự toàn bích, một mặt bắt đầu với việc từ bỏ những pháp đen là bất thiện pháp và mặt khác với sự tu tập các pháp trắng là thiện pháp.

Tại sao? Bởi vì các pháp đen là nơi những điều xấu xa, ô nhiễm, mê lầm trú ngụ, ẩn nấp và che giấu. Và trong pháp trắng hàm chứa các pháp dẫn đến Giác Ngộ. Hắc đạo nuôi dưỡng các pháp ác, trong khi bạch đạo là sự báo hiệu điềm lành. Bất thiện pháp báo trước những bất hạnh và khổ đau, trong khi thiện pháp là chỗ chứa của hạnh phúc. Hắc đạo là nơi lai vãng của những rối loạn và bạch đạo là nơi cư trú của an lạc. Còn rất nhiều hình ảnh khác có thể được thêm vào, nhưng ở đây như vậy đã tương đối đủ để hiểu thế nào là hắc và bạch.

Ngoài việc là hang ổ của các ô nhiễm, mê lầm, hắc pháp còn báo trước những điềm xấu dưới dạng đáng ngại hơn. Vì trong bóng tối luôn luôn mai phục những điều bất tường, đặc biệt đe dọa đến đời phạm hạnh. Những điều bất tường ấy được gọi là những pháp gây nguy hại đến đời phạm hạnh. Về cơ bản, chúng là các điều xấu ác dưới dạng ngủ ngầm, là tai họa tiềm tàng”.

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Acharya Buddharakkhita, thuộc truyền thống Nguyên Thủy. Ngài dạy rất rõ ràng, phân biệt minh bạch thiện và ác.

Để sự tìm hiểu Phật pháp thêm phần phong phú, chúng tôi xin kính gửi tới quý khán thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju theo truyền thống Bắc Tông, viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện như sau:

“Trong cuộc hành trình tới tỉnh Edo, Zenkai, con trai của một hiệp sĩ Nhật, trở thành người hầu cận của một quan chức cao cấp tại đó.  Zenkai ngoại tình với vợ của quan chức này và bị phát hiện. Để tự vệ, hắn ta giết vị quan rồi chạy trốn cùng với  người vợ.

Sau này hai người trở thành những tên ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến cho Zenkai càng ngày càng khinh ghét đến phát ghê tởm. Cuối cùng không còn chịu nổi, Zenkai bỏ người đàn bà lại mà đi tới nơi xa, tận tỉnh Buzen, trở thành một người hành khất lang thang.

Để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ, Zenkai quyết tâm hoàn thành một vài việc thiện trong cuộc đời. Biết rằng có một con đường nguy hiểm cheo leo trên vách đá từng là nguyên nhân gây ra tai nạn chết và bị thương cho nhiều người, Zenkai quyết tâm mở một con đường hầm xuyên qua núi tại nơi đó.

Ban ngày thì đi xin thực phẩm, ban đêm Zenkai mài miệt đào con đường hầm. Trải qua ba chục năm, con đường hầm dài được 2.280 feet, cao 20 feet và rộng 30 feet.

Hai năm trước khi hoàn tất công trình, người con trai của viên quan mà Zenkai giết khi xưa, nay đã trở thành một kiếm sĩ lão luyện, tìm ra được Zenkai và tới để trả thù nhà. Biết được mục đích của khách lạ, Zenkai nói:

– Tôi sẽ sẵn sàng trao mạng sống của tôi cho anh. Chỉ xin hãy để cho tôi làm xong công việc này. Ngay hôm con đường hoàn thành, anh có thể giết tôi.

Người con trai đồng ý đợi tới ngày đó. Nhiều tháng trôi qua, Zenkai cứ miệt mài làm việc. Người con trai càng ngày càng thêm chán nản vì cái cảnh ăn không ngồi rồi, nên bắt đầu phụ giúp công việc đào hầm. Sau khi đã giúp Zenkai trên một năm, anh ta cảm thấy ngưỡng mộ ý chí mãnh liệt và nghị lực của Zenkai.

Cuối cùng thì con đường hầm cũng đào xong và mọi người có thể sử dụng nó để đi lại an toàn. Bây giờ Zenkai mới nói:

– Công việc của tôi đã hoàn tất. Hãy chặt đầu tôi đi.

Với đôi mắt đẫm lệ, người đàn ông trẻ  nghẹn ngào:

– Làm sao con có thể cắt đầu vị thầy của chính con được?”

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý vị một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s