Bài 28 – Bản Tâm bất sinh bất diệt

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ, là giác ngộ giải thoát, thành Phật.

Vậy thì, Tâm là gì?

Thưa quý thính giả,

Nơi kinh Surangama, phiên âm là kinh Thủ Lăng Nghiêm, qua lời giảng giải của đức Phật cho vua Prasenajit, Ngài đã khai mở tâm thức của ông ta, khiến cho ông nhận ra được Bản Tâm bất sanh bất diệt. Chúng tôi xin trích dịch đoạn kinh quan trọng này từ bản Anh ngữ của cư sĩ Charles Luk, như sau:

“Lúc đó, vua Prasenajit đứng dậy bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, trước khi được ngài chỉ dạy, đệ tử đã gặp hai người là Katyâyana và Vairatiputra, cả hai đều nói rằng thân này sau khi chết thì hoại diệt. Sự hoại diệt đó được gọi là Niết Bàn. Dù nay đệ tử đã được gặp đức Thế Tôn, nhưng vẫn chưa hiểu rõ điều này. Tất cả chúng đệ tử đây vẫn còn đang trong vòng luân hồi sinh tử, cầu mong làm thế nào để có thể nhận ra được cái Tâm vượt khỏi vòng sinh tử.

Đức Phật nói với vua Prasenajit rằng:

– Đại vương, nay ta hỏi về cái cơ thể máu thịt của nhà vua, nó vĩnh viễn hiện hữu, không thể phá hủy được như là kim cương, hay là nó thay đổi và hư hoại.

Nhà vua bạch rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, cơ thể của đệ tử liên tục thay đổi và cuối cùng sẽ hoại diệt.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, ông chưa chết sao biết cơ thể sẽ hoại diệt?

Nhà vua bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, dù rằng cái cơ thể không vĩnh cửu mà luôn luôn đổi thay hư hoại này của đệ tử chưa chết, nhưng đệ tử quan sát thấy nó thay đổi và hoại diệt liên tục, không lúc nào ngưng, dù là một thoáng thời gian, âm thầm hoại diệt như lửa cháy tàn dần trở về hư vô.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, nay ông đã già, so sánh hình dáng hiện nay với hình dáng khi ông còn là cậu bé khác nhau ra sao?

Nhà vua trả lời:

– Bạch đức Thế Tôn, khi đệ tử còn nhỏ, da dẻ sáng mịn, đến khi thành niên khí lực sung mãn tràn đầy sức sống. Đến nay tuổi già sức yếu, thân hình còm cõi, thần khí chậm lụt, đầu tóc bạc trắng, da mặt nhăn nheo. Cho nên đệ tử biết rằng thời gian sống trên đời chẳng còn lâu dài gì nữa. Không thể đem cái cơ thể hao gầy của đệ tử ngày nay để so sánh với cơ thể sung mãn đầy sức sống, khi đệ tử còn trẻ được.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, hình dáng ông không phải là bỗng nhiên bị suy tàn, đúng không?

Vua Prasenajit bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, tuy nó âm thầm thay đổi liên tục một cách lặng lẽ khiến cho đệ tử không thể nhận ra một cách rõ ràng, nhưng cùng với bốn mùa đổi thay, dần dà hình dáng đệ tử thay đổi tàn tạ đi như ngày hôm nay.

Tại sao vậy?

Bạch đức Thế Tôn, khi đệ tử được 20 tuổi, tuy là còn trẻ trung, nhưng lúc đó đệ tử đã già hơn năm lên 10. Rồi khi 30 tuổi, lại già hơn năm 20. Cho đến ngày hôm nay, đệ tử được 62 tuổi, thì đã già yếu hơn khi mới năm chục tuổi. Bạch đức Thế Tôn, đấy là đệ tử nói về sự âm thầm thay đổi tính theo từng thập niên. Nhưng nếu quan sát kỹ, thì sự thay đổi xảy ra không phải là hằng năm, hằng tháng hoặc hằng ngày, mà nó xảy ra trong từng thoáng thời gian ngắn ngủi, từng sát na tâm thức sinh diệt. Do đó, đệ tử có thể thấy rõ một ngày kia thân này sẽ tàn tạ, sẽ chết.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, ông quan sát sự thay đổi liên tục nơi thân ông và biết rằng ông sẽ chết. Nhưng ông có biết tại nơi ông, có cái gì không chết chăng?

Nhà vua chắp hai tay, bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, đệ tử thật là không biết.

Đức Phật dạy tiếp:

– Để ta sẽ chỉ ra cho ông thấy Tâm Bản Nhiên bất sanh bất diệt, ở ngoài vòng sinh tử. Đại vương, lần thứ nhất trong đời, ông thấy sông Hằng lúc được mấy tuổi?

Nhà vua bạch:

– Khi đệ tử 3 tuổi, được mẹ dẫn đi lễ thần Jiva. Khi qua sông, đệ tử biết đó là sông Hằng.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, ông mới nói rằng khi ông 20 tuổi, thì già hơn lên 10, cho đến khi 60, ngày qua tháng lại, năm tháng chồng chất, cơ thể ông âm thầm từng ý niệm đã đổi thay. Vậy năm ông lên 3, “tánh chất của sự thấy” có giống “tánh chất của sự thấy” năm ông 13 tuổi chăng?

Nhà vua bạch Phật:

– “Sự thấy” 3 tuổi cũng giống năm 13 tuổi, ngay cho tới nay đệ tử đã 62 tuổi, “sự thấy” cũng vẫn giống hồi đó.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, ngày nay ông 62 tuổi, tóc bạc mặt nhăn, hiển nhiên là nhiều nếp nhăn hơn năm ông còn bé. Vậy ngày hôm nay ông thấy sông Hằng, ông có nhận ra rằng “tánh chất của sự thấy” hôm nay già hơn và “tánh chất của sự thấy” năm ông lên 3 trẻ hơn chăng?

Nhà vua bạch:

– Bạch đức Thế Tôn, “tánh chất của sự thấy” luôn luôn vẫn như nhau.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, dù da mặt ông nhăn nheo, già đi, Tánh Thấy của ông vẫn trước sau như nhau, không già. Vậy thì, cái gì có già đi thì có thay đổi, cái gì không già đi thì không thay đổi. Sự thay đổi đi tới hoại diệt, sự không thay đổi thì bản chất vốn ngoài vòng sinh tử. Tại sao ông lại nói theo lời của bọn tà đạo Maskari cho là đời này sau khi chết trở thành hư vô.

Sau khi nghe lời dạy của đức Phật, vua Prasenajit nhận ra được rằng sau khi chết không phải là cõi hư vô, mà sẽ tái sinh vào đời sống mới. Nhà vua và toàn thể chư đệ tử đều rất vui mừng được nghe một bài pháp vô cùng quý giá về Tâm Bản Nhiên bất sanh bất diệt mà họ chưa từng được nghe.

Thưa quý thính giả,

Tâm Bản Nhiên ở đây chính là Bản Thể Tuyệt Đối, Phật Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh, Giác Tri Kiến, Tri Kiến Phật, Chân Tâm, Tâm Chân Như, Trí Tuệ Bát Nhã (Prajna Paramita), Niết Bàn, Tánh Không, Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind, True Nature, … vân vân …

Theo Luận Đại Thừa Khởi Tín của Luận Sư Mã Minh thì Tâm chúng sanh có hai phương diện là Tâm Chân Như và Tâm Sanh Diệt, còn gọi là Chân Tâm và Vọng Tâm. Nền tảng của “Tâm Sinh Diệt” là Tàng Thức, nghĩa là cái kho, còn gọi là Thức Thứ Tám trong Tâm Lý Học, mà thuật ngữ nhà Phật gọi là Duy Thức Học. Nhà Phật quan niệm rằng tất cả các hiện tượng trên thế gian đều do Tâm Thức biến hiện mà thành, cho nên gọi là Duy Thức.

Theo kinh Viên Giác của nhà Phật, thì “Tất cả chúng sinh vốn là Phật” cũng như vàng vốn sẵn là vàng, nhưng là vàng quặng, lẫn tạp chất, nên phải gạn lọc, xả bỏ tạp chất cho sạch để trở về bản chất vàng, chứ không phải dùng chất khác mà làm thành vàng được. Tu hành cũng vậy, chỉ là xả bỏ chất độc hại là Tham Sân Si, chấm dứt vọng tâm điên đảo, thanh tịnh hóa Tâm, là trở về Bản Thể Phật Tánh, mà Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma dùng chữ của thế gian cho dễ hiểu, gọi là “Kiến Tánh thành Phật”.

Theo quan điểm của nhà Phật thì dòng sinh mệnh khởi đi do một niệm vô minh bất giác bỗng nổi lên từ Biển Tâm mênh mông, cũng như người đang thức, chớp mắt đã lạc vào giấc ngủ. Trong mơ, thấy đủ thứ hiện ra, bị đánh cũng thấy đau, khóc cũng có nước mắt, sợ hãi cũng chạy trốn, vân vân … Nhưng thời gian của giấc ngủ bình thường chỉ lâu có một đêm, sáng dậy bèn biết ngay rằng chuyện xảy ra trong đêm là ngủ mơ, không thật.

Dòng sinh tử của con người kéo dài triền miên, từ cái niệm vô minh bất giác đó khởi đi, hết đời này tới kiếp khác, tạo nghiệp thiện, hoặc ác, tất cả đều chứa trong Tàng Thức (là cái kho), làm nhân cho những kiếp sau, tiếp tục trôi lăn trong mê vọng của sinh tử luân hồi, mãi đến khi nào thức tỉnh, trở lại được trạng thái Tâm Thanh Tịnh, thì mới hội nhập lại với Bản Thể Chân Tâm được, đó là Kiến Tánh thành Phật. Phật có nghĩa là người giác ngộ, không phải là thần linh.

Thưa quý thính giả,

Tất cả các con đường tu học của Phật giáo đều nhấn mạnh vào sự thanh tịnh hóa và luyện cho Tâm được an định. Tâm có an định thì mới có thể nhìn rõ sự việc trên thế gian, cũng như thùng nước có đứng lặng thì mới nhìn thấy cây kim dưới đáy. Do Tâm an định, đời sống tinh thần được an lạc, ứng xử sáng suốt, chuyển hóa nghiệp xấu trở thành tốt, tạo nền tảng cho sự tu hành rốt ráo đến kiến Tánh thành Phật, giải thoát khỏi tất cả nỗi thống khổ.

Để đạt được điều này, nhà Phật có những pháp môn tu, thí dụ Ngũ Đình Tâm Quán, Thiền Chỉ Quán, Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Tông, Thiền Minh Sát, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, vân vân… Hành trì theo đường lối của các pháp môn tu này sẽ giúp hành giả gỡ bỏ những vướng mắc Tham Sân Si vốn đã xuất hiện từ vô thủy.

Như thế, đạo Phật không bi quan, không lạc quan, chỉ phân tích rõ ràng thực tế vận chuyển của cuộc đời và dạy những pháp môn tu tập để mọi người được tỉnh thức thật sự, tiếp cận với đời sống ngay trong hiện tại một cách vững vàng, sáng suốt.

Thưa quý thính giả, 

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn “Only Don’t Know, The Teaching Letters of  Zen Master  Seung Sahn”, câu chuyện như sau:

“Hồi đó, trên dẫy núi mênh mông có một con gấu đen to lớn, khỏe và đẹp, ngênh ngang tung hoành. Nó sống cuộc đời  đầy tự do và hạnh phúc. Ngoài những lúc lăn ra ngủ, nó dùng hầu hết thời giờ để đi kiếm thức ăn. Cũng có khi nó kiếm được ê hề, nhưng cũng có khi nó đi không rồi lại về không. Cuộc đời nó cứ thế mà trôi, tự do tự tại.

Thế rồi một ngày kia, có một đám người tới bắt nó đem về nhốt vào chiếc chuồng nhỏ của một gánh xiếc lớn. Chẳng mấy chốc nó đã được một nhà luyện thú dậy cho biết cách đóng trò trong gánh xiếc này. Mỗi lần con gấu biểu diễn đúng theo lời dậy thì nó được cho ăn no nê.

Ngoài giờ đóng trò, nó chỉ đi tới đi lui trong chuồng. Cái chuồng thì nhỏ, nên nó biết rõ đến nỗi thuộc làu từng chi tiết. Đồ ăn thì luôn luôn ê hề cho nên chẳng bao lâu nó đã quên biến mất quãng đời liệt oanh, khi mà nó một mình một giang sơn nơi rừng sâu núi thẳm.

Nhiều năm trôi qua, một đêm kia có mấy kẻ phá hoại lẻn vào gánh xiếc phá bung tất cả các chuồng để thả thú ra. Con gấu bỗng nhiên được tháo cũi xổ lồng, vội vã bỏ gánh xiếc chạy thục mạng một mạch về vùng núi xưa, nơi đã một thời là giang sơn của nó.

Nhưng dẫy núi xưa đó sao nay có vẻ xa lạ quá khiến cho nó không còn dễ dàng kiếm được đồ ăn như trước nữa. Thế là nó bèn quay ra biểu diễn vài màn nhào tới lộn lui, rồi lại nhào lui lộn tới.

Có mấy con gấu đi ngang qua dừng lại coi, rồi hỏi rằng nó đang làm gì, thì nó trả lời:

– Ồ, tao đang làm trò xiếc để sẽ được cho ăn  đấy mà.

Cả đám gấu khán giả lăn ra cười:

– Rõ thật là cái thằng ngốc! Mày đang ở trên núi. Ai sẽ đem thức ăn đến để thưởng công biểu diễn xiếc cho mày. Hãy tự đi mà kiếm ăn, thằng ngu kia!

Nhưng bây giờ thì con gấu đã trở nên quá gắn bó với cái chuồng của nó, khiến cho nó quên tuốt luốt tất cả mọi sinh hoạt của đời sống tự do tự tại.

Loài người thì cũng thế. Mỗi người đều có một cái lồng mà họ bị dính mắc vào — cái lồng của bác sĩ, cái lồng của luật sư, cái lồng của giáo sư, cái lồng của công việc, cái lồng của tình bằng hữu, cái lồng của tình gia đình.

Vì con người sống trong những cái lồng này cho nên họ không còn thật sự thấu hiểu thế nào là tự do nữa. Điều đó có nghĩa là họ không hiểu biết phần còn lại của vũ trụ. Họ chỉ thấu suốt được cái đời sống loanh quanh hẹp hòi, đóng khung trong cái lồng của họ.”

Thưa quý thính giả,

Cái lồng mà thiền sư Seong Sahn nói đó, áp dụng vào thực tế trong đời sống, chính là cái khung, cái khuôn khổ, nếp sống vật chất và tinh thần cứng ngắc mà mỗi người tự nhốt mình vào, tự mình làm mất tự do của chính mình.

Kính thưa qu‎‎ý vị,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s