Chuyển Hóa Cơn Giận

 

Chúng tôi xin lược trích trong thư quý bạn đọc gửi về Thư Viện Hoa Sen tuần qua mấy câu hỏi, và sẽ lần lượt trả lời.

Câu hỏi thứ nhất như sau:

– Tôi đã cố gắng tập giữ bình tĩnh, nhưng sao khó quá. Thí dụ, đang lái xe trên đường, có người bóp còi inh ỏi để vượt, rồi khi xe chạy ngang qua, hắn còn quay lại lăng mạ vào mặt tôi. Cơn giận làm cho tôi run lên, phải phóng xe theo để mà trả đũa. Xin hỏi rằng trong trường hợp đó, dù tâm tôi có muốn yên nhưng thân tôi phát run lên rồi, làm sao mà kiềm chế được?

Theo quan điểm của nhà Phật thì, sở dĩ mỗi người trong chúng ta có tâm tính khác nhau, đời sống sướng khổ khác nhau, đều là do ảnh hưởng từ nghiệp nhân của quá khứ cộng với môi trường sống trong hiện tại, gọi là nhân và duyên. Tuy vậy, nhà Phật cho là nhân và duyên cũng như tất cả mọi sự việc trong thế giới tương đối này, đều vô thường, không cố định, có thể học tập để chuyển hóa, hoặc tu tập đạt được tâm vô ngã, tức là liễu đạo, thì như lời thiền sư Huyền Giác nói : “Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không”, nghĩa là “giác ngộ rồi, ngộ được Tánh Không rồi, thì nghiệp chướng từ xưa đến nay đều là không”. Người giác ngộ nhìn tất cả mọi sự trên thế gian đều chỉ còn là giấc mộng đêm qua, không có gì là thật nữa.

Tuy nhiên, dù chưa liễu đạo, chưa thể “nghiệp chướng bổn lai không”, nhưng mỗi người đều vẫn có thể tu tâm dưỡng tính để thay đổi dần dần hoàn cảnh sống và chuyển hóa nhân quả từ xấu trở nên tốt. Sự học tập để sửa đổi tâm tính này thì không riêng gì nhà Phật, mà các trường học của thế gian đều có thực hành trong các môn học về luân lý, đạo đức và tâm lý. Cho nên, muốn có được thói quen bình tĩnh, chúng ta cũng cần phải thực tập.

Giáo lý nhà Phật là tổng kết những kinh nghiệm thực tế mà đức Phật và các bậc hiền nhân đã kinh qua, đã thực nghiệm, viết lại để thuyết phục Phật tử dấn bước trên con đường thực tập. Giáo lý không thể thay thế sự thực tập. Các khoa học gia sáng tạo phần lý thuyết về các công trình khoa học, thí dụ cách làm cho con người có thể bước trên mặt trăng, vân vân…. Có phần lý thuyết rồi, nhưng cũng phải đem rất nhiều công sức để thực hiện chiếc phi thuyền, thí nghiệm từng chi tiết về sự sống trong không gian vân vân …, từ năm này qua năm khác, cuối cùng mới tới ngày lý thuyết thành hiện thực, loài người bước được trên mặt trăng.

Học tập phần lý thuyết suông thôi thì không thể hoàn toàn chuyển hóa được tâm. Vì thế, nhà Phật có nhiều pháp môn tu phối hợp cả tâm cùng với thân, để đạt được thành quả toàn diện.

Đạo Phật không phải là một tín ngưỡng chỉ cần có niềm tin xuông, lại càng không phải là một tôn giáo trông cậy vào thần quyền, mà là một phương pháp luyện tâm, với quan điểm “nhất thiết duy tâm tạo”, và “tâm bình thì thế giới bình”. Hiểu được lý thuyết rồi thì phải thực hành, mới có thể chuyển hóa được tâm, để đạt tới cảnh giới “tâm bình thì thế giới bình”.
Đức Phật đã dạy rằng:

“Kinh sách như là ngón tay chỉ mặt trăng, kinh sách không phải là mặt trăng”.

Kinh sách, hay những bài Phật pháp trong sách báo, hoặc phát thanh đều chỉ có nhiệm vụ trình bày mục tiêu của đạo Phật về sự tu hành để giải thoát tâm ra khỏi những ràng buộc, đau khổ, từ từng phần cho tới khi Giác Ngộ, giải thoát hoàn toàn, như đức Phật.

Từ sự giác ngộ của đức Phật và các hiền giả về “nhất thiết duy tâm tạo”, “tâm tạo thiên đường và địa ngục” và “tâm bình thì thế giới bình”, vân vân, chúng ta có được những lý thuyết về sự chuyển hóa tâm, để thay đổi hoàn cảnh, môi trường sống về mặt tinh thần, từ đó dòng nghiệp thăng hoa, tạo nhân tốt hưởng quả tốt, quan hệ nhân quả chuyển qua hướng tốt, mỗi người đều tự tu, tự hành, tự thành Phật đạo, giác ngộ giải thoát.

Trên con đường thực hành, dù chưa tới được đích cuối cùng là Toàn Giác như Phật (nghĩa là hoàn toàn giác ngộ), nhưng cứ mỗi bước thực tập thì tâm hành giả chuyển một bước. Cũng như võ sĩ tập luyện cơ thể, không phải một sớm một chiều mà đã có thân hình tuyệt mỹ hoặc sức khỏe bạt núi xẻ sông, nhưng mỗi ngày tập, là cơ thể lại khỏe thêm một chút.

Trong số các phương pháp chuyển tâm của nhà Phật, hành thiền là con đường đức Phật và các đệ tử đã thực tập, đã thành công, đã giác ngộ giải thoát và đã dậy lại cho đời sau, tại các trường thiền khắp nơi trên thế giới. Ngoại trừ mục tiêu cốt tủy là tu thiền để được giác ngộ, giải thoát, nó còn là một trong những pháp luyện tâm hữu hiệu nhất, để sống vui, sống khỏe, về cả thể xác lẫn tâm hồn

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi một bài pháp của thiền sư Soyen Shaku, trích dịch từ cuốn Zen for Americans, do học trò của ông là Daisetz Teitaro Suzuki dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

Thiền sư Soyen Shaku là viện trưởng hai thiền viện Engaka-Ji và Kencho-Ji, tỉnh Kamakura, nước Nhật. Vào cuối thế kỷ thứ 19, năm 1893, thiền sư đã đến nước Mỹ và thuyết trình về Thiền của Phật giáo trong Hội Nghị các Tôn Giáo tại Chicago. Đầu mùa Xuân năm 1905, thiền sư trở lại nước Mỹ và ở lại cho đến tháng Tư năm 1906 mới rời nước Mỹ để qua Âu Châu thuyết giảng.

Trong thời gian trên một năm trời lưu ngụ tại Mỹ, thiền sư Soyen Shaku thể theo lời mời của các bằng hữu, đã giảng rất nhiều thời pháp. Thiền sư nói bằng tiếng Nhật, được thông ngôn qua tiếng Anh, chủ yếu là giới thiệu kinh Tứ Thập Nhị Chương và đại cương về giáo lý nhà Phật, tại nhiều địa danh, thí dụ San Francisco, Los Angeles, Sacramento, Fresno, San Jose, Oakland, Washington, New York, Philadelphia, Boston và nhiều nơi khác nữa trong nước Mỹ. Kinh Tứ Thập Nhị Chương là kinh căn bản trong kho tàng kinh điển Phật giáo.

Cuối thế kỷ thứ 19 là thời gian các phương tiện truyền thông còn thô sơ, eo hẹp, sự tận tụy của ông đã đi khắp nơi để hoằng truyền Tuệ Đăng và giải tỏa những sự hiểu lầm đạo Phật của người Tây Phương tại Mỹ Châu và Âu Châu, đã làm thay đổi nhãn quan của nhiều người. Thuyết giảng tại bất cứ nơi nào, ông cũng đều được thính chúng nồng nhiệt tán thưởng.

Sau này, những bài giảng của ông được tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, người đệ tử mà cũng như ông, đã tận tụy đem đạo Phật từ Đông Phương trải dài qua Tây Phương dịch sang tiếng Anh. Cả hai thày trò đều coi Đông Phương và Tây Phương cùng là nhà của mình.

Sau đây là lời giảng của thiền sư Soyen Shaku:

… “ …Phật giáo không phải là một hệ thống siêu hình học, mà là một tôn giáo chú trọng thực hành hơn bất cứ điều gì khác. Đạo Phật dạy người hành giả tu tập để đạt được sự thể hiện tâm giác ngộ trong khi triết gia và lý thuyết gia thì chỉ phỏng đoán các sự kiện và rồi đưa ra những lời diễn dịch nào mà họ cảm thấy vừa ý hoặc đủ sức hấp dẫn để thuyết phục mọi người mà thôi.

Người ta thường lên án đạo Phật là thụ động, yếm thế, thiếu tính cách thúc đẩy như những tôn giáo khác. Và sự lạc hậu của các nước châu Á trên đà tiến nói chung của nhân loại, đôi khi bị người ta quy lỗi rằng do các nước này ảnh hưởng đạo Phật. Dầu sao, trước sự hiểu lầm sâu xa như thế, với một vài lời nói ở đây, tôi cũng không thể làm sáng tỏ vấn đề được.

Tuy nhiên, tôi có thể nói vắn tắt rằng, nếu có chút tính cách thụ động nào trong nền văn hóa Đông Phương, thì cũng chỉ là sự độ lượng, thờ ơ, lãnh đạm hoặc tự chế. Điều đó không phát nguồn từ đạo Phật mà là cá tính của người Đông Phương. Đạo Phật dạy người ta phải nỗ lực quán chiếu nội tâm trong tĩnh lặng, liên tục không ngưng nghỉ, để hóa giải vô minh và giác ngộ Chân Lý. Chúng ta đã thấy có biết bao nhiêu tấm gương đáng chiêm ngưỡng về sự minh triết được biểu lộ trong đời sống của các Phật tử.

Lịch sử đạo Phật đã chứng minh rằng, trong công cuộc truyền bá suối nguồn tư tưởng cao thượng đi khắp nơi,Phật giáo đã hoàn toàn tránh được sự tàn bạo và đổ máu. Nền đạo đức Phật giáo không phải là thụ động hoặc tiêu cực, chỉ vắng mặt các thói kiêu ngạo, hiếu chiến, tàn nhẫn, hẹp hòi và cuồng tín, trừ khi sự vắng mắt những tật xấu này, lại bị gọi là thụ động hoặc tiêu cực mà thôi.

Để trở thành Phật tử đúng nghĩa, trước nhất người ta phải giữ đạo đức để không phạm vào các Giới cấm mà đức Phật chế ra và đã được ứng dụng khắp nơi. Người Phật tử còn phải tích cực thực hành phương pháp quán chiếu nội tâm trong tĩnh lặng, để thấu triệt sự vận hành của tâm ý thức, ngõ hầu chuyển hóa nó. Đó là tu tập Thiền Định. Sự tu tập này sẽ trở thành thói quen, cho đến khi tâm trở nên thanh tịnh, Tuệ Giác bừng sáng, nhà Phật gọi là trực ngộ. Con đường tu hành của nhà Phật, gồm Giới, Định, và Tuệ, như là cái đỉnh ba chân, không thể thiếu chân nào.

Tu tập thiền quán sẽ đưa tâm vào trạng thái lặng lẽ, điều hòa tâm cho quân bằng, luyện thói quen sống tỉnh thức trong giây phút hiện tại, chú tâm vào những vấn đề đang xảy ra trong sự hồn nhiên. Hành trì thiền quán chẳng mất gì cả, mà lại đem đến cho người ta điều lợi rất lớn, là sẽ có được thói quen bình tĩnh, ôn hòa”.

Trên đây là lời dạy của thiền sư Soyen Shaku.

Trong chiều dài của lịch sử giảng dạy Phật pháp, ngoài những pháp Thiền do đức Phật đích thân trao truyền, như Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Như Lai … vân vân…, chư Tổ Sư đã sáng tác thêm những pháp môn phương tiện để phù hợp với căn cơ của chúng sinh đương thời, thí dụ Thiền Lâm Tế, Thiền Tào Động, Thiền Khán Thoại Đầu, Thiền Chỉ Quán … vân vân …. Hoặc có những pháp tu tính chất cũng như tu Thiền, nhưng dùng tên khác, thí dụ Niệm Phật Tam Muội, Niệm Phật Thật Tướng, vân vân….

Đạo Phật dạy rằng:

“Trong một cái búng tay, đã có hàng ngàn mảnh nhỏ của ý hiện lên trong tâm, liên kết nhau di chuyển rất nhanh thành một niệm tưởng, và niệm này dứt mới có niệm khác hiện ra được, không thể hai niệm cùng song song hiện lên trong tâm được. Cũng vì tâm con người ta không thể chứa hai ý chập vào nhau, cho nên mới có thể tu hành”.

Tâm con người luôn luôn có một ý nghĩ nào đó, không thể trống rỗng, cũng như cái hố dưới trời mưa, lúc nào cũng có nước. Dù là một người rất đơn thuần, tâm vẫn luôn luôn có ý niệm trôi chảy. Điều này quý thính giả có thể thí nghiệm.

Vì tâm con người ta lúc nào cũng phải có ý niệm trôi chảy, cho nên trong các môn phái chuyển tâm, có cách “dùng một niệm dẹp vạn niệm”, đó là pháp môn Niệm danh hiệu Phật. Có câu “Niệm Phật thì không niệm chúng sinh”, tâm người niệm Phật đã bị câu Phật hiệu chấn ngự, cho nên những ý tưởng linh tinh không nhào vào được, cũng như cái hố trống thì nước ùa vào, nay dùng cái gì đó để lấp lại thì nước sẽ không thể lọt vào được.

Luyện tâm cách này là một trong các pháp môn phương tiện dễ ứng dụng, bất cứ đi đứng nằm ngồi đều thực tập được, cứ “niệm Phật thì sẽ không niệm chúng sinh”, “niệm chúng sinh” là những tạp niệm tính toán tham sân si, lúc nào cũng sẵn sàng ùa vào tâm. Ngay lúc thấy tâm mình rối beng đủ thứ suy nghĩ, hãy dùng ngay câu Phật hiệu, thí dụ Nam mô A Di Đà Phật, hoặc chỉ cần A Di Đà Phật cũng đủ, để chuyển nhiều niệm linh tinh thành một câu niệm Phật, sẽ chấm dứt được cơn giận đang bốc lên do tính chất của vọng tâm là suy diễn, càng nghĩ càng tức.

Trong trường hợp vị thính giả nêu câu hỏi, ứng dụng pháp môn phương tiện này, thì sẽ chuyển hóa được cơn giận. Nếu không bị cơn giận bùng lên đi đến chỗ xảy ra xung đột, thì có thể tránh được biết bao nhiêu hậu quả gây phiền não. Điều này quý thính giả có thể thí nghiệm.

Sau đây là câu hỏi thứ hai:

– Nghe nói về buông xả, tôi rất muốn làm theo. Nhưng trong thực tế, những người làm cho tôi ghét và những lời nói làm cho tôi phát giận, luôn luôn trong ký ức, làm sao tôi quên cho nổi để mà buông xả. Vậy có cần phải quên những điều đó để buông xả không? Nếu cần thì xin quý vị chỉ cho tôi cách để quên.

Xin thưa,

Trong đời sống, chúng ta có câu “không thể quên, nhưng có thể tha thứ”. Đối với tâm lý học Phật giáo, tất cả những chuyện đã xảy ra trong cuộc đời, đều nằm trong Tàng Thức, tức là kho chứa các chủng tử làm nhân cho quả báo ở tương lai. Chủng tử là nhân, nhưng phải có duyên, là những cơ hội để chủng tử phát triển, thì nhân mới trổ ra quả được. Nếu chuyển hóa được tâm, khiến cho duyên không có cơ hội xuất hiện, thì nhân sẽ không thể sinh ra quả. Cũng như men rượu, nếu không có duyên là cơm nếp để rắc men vào, thì mãi mãi cũng chỉ là cục bột khô, không có cơ hội để nảy ra sinh vật lên men.

Ký ức con người có cách vận hành của nó tùy theo hoàn cảnh. Bất cứ một người bình thường nào, cũng nhớ nhiều chuyện trong quá khứ, dù rất xa xôi. Nhưng sự nhớ đó không phải là hoàn toàn chính xác, mà có chọn lọc. Người ta thường nhớ những hành động tốt của bản thân, và những điều xấu của người mình ghét. Nếu có ai ghi chép lại những lời kể lể của họ trong một thời gian cách nhau, thí dụ mười năm, thì sẽ thấy hai câu chuyện không còn giống y hệt, mà điều tốt về mình thì dường như tăng thêm, đồng thời điều xấu của người họ ghét, cũng tăng thêm. Tại sao vậy? Vì mỗi lần kể lể, câu chuyện được thêm mắm dậm muối cho phù hợp ý thích của bản ngã. Nhưng nếu một thời gian không nhắc đến nữa thì câu chuyện sẽ chìm xuống dần, cho đến một lúc nào đó lại có ai khơi ra.

Không có phương pháp nào dạy người ta quên. Ngay đến những người mắc bệnh Alzheimer cũng không quên tất cả, chỉ là ký ức bị lẫn lộn mà thôi.

Nhưng không cần quên mới buông xả được, mà cần hiểu và ứng dụng sự hiểu biết về vận hành của cuộc đời.

Nhà Phật quan niệm rằng tất cả mọi sự việc trong cuộc đời đều vô thường, nghĩa là đều luôn luôn thay đổi. Tâm vô thường, lúc thì nghĩ thế này, lát sau lại nghĩ khác. Thân vô thường, đang khỏe mạnh lại phát bệnh. Không có gì vĩnh viễn tồn tại, trước sau như một.

Có câu “không thể uống cùng một ngụm nước trên một dòng sông”. Ngụm nước trước và ngụm nước sau, đã khác nhau vì dòng sông luôn luôn di chuyển. Cuộc đời cũng thế, một người vừa mới là kẻ sát nhân, khi thấy xác nạn nhân đổ xuống, tia chớp của hối hận lóe lên trong tâm, khiến hắn ta sám hối, buông bỏ dao xuống mà đi tu, xả bỏ được tất cả sự vô minh từ vô lượng kiếp, giác ngộ lại được bản thể, thành Phật. Cho nên nhà Phật mới có câu “buông dao đồ tể, tu hành thành Phật”. Tội lỗi là do vô minh, do ngu si. Giác ngộ thì thành Phật. Đạo Phật là con đường của bao dung và bình đẳng. Mọi người đều bình đẳng trong sự tu hành, trong sự giác ngộ và trong sự thành Phật.

Mỗi người, không ngoại trừ ai, đều có những nỗi khổ riêng, vì vô thường là khổ. Từ vua chúa, doanh gia, tỷ phú, cho tới thứ dân bần cùng, đều khổ vì vô thường, vì có chuyện bất trắc, chuyện đau khổ có thể ập tới bất cứ lúc nào, thí dụ, yêu nhau mà bất thình lình mất nhau … vân vân, là nỗi khổ không một ai tránh thoát được.

Tất cả mọi sinh vật trên cuộc đời đều có những nỗi khổ, có những điều đáng thương xót. Nếu có thể nhìn tất cả mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời với nhãn quan đó, thì chúng ta có thể tha thứ cho người và việc mà chúng ta ghét, để mà buông xả. Buông xả là phương pháp hữu hiệu nhất để sống vui, sống khỏe, cho mình và cho mọi người.

Liên Hương
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s