Archives

Danh từ thầy chùa, thầy cúng

Một vị thính giả có câu hỏi như sau:

Thưa quý Ban Biên Tập, 
Tôi thường nghe danh từ “thầy chùa”, “thầy cúng” để chỉ các vị sư. Nay đọc sách thấy có từ “đạo sư”, thiền sư”. Vậy những chức vụ này có gì khác nhau? Nếu muốn nói đến các vị sư ở chùa thì nên dùng từ nào cho chính xác? 
Xin cảm ơn ban Biên tập, 
Ngô văn An

Thưa quý vị và đạo hữu Ngô văn An,

Trước nhất, chúng tôi xin minh xác là từ ngữ “thầy cúng” không có trong Phật giáo. Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã có trích dẫn lời dạy của hòa thượng Tịnh Không về vấn đề cúng lễ cầu siêu, xin trích lại như sau:

…“… Trong Phật pháp, nói Phật sự là giúp đỡ dậy dỗ tất cả chúng sinh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, những sự việc này đều gọi là Phật sự. Vậy còn hiện nay thì sao?

Hiện nay thì thời gian tiếp xúc với kinh điển cơ hồ ít hơn, nhìn thấy trong cửa Phật phần nhiều đều là lấy kinh sám “Phật sự siêu độ người chết”, cho rằng đây là Phật sự. Cho nên vừa nghe nói đến tiếng “Phật sự” là rất dễ sinh ra hiểu lầm. Những việc siêu độ vong linh này ở trong Phật giáo xuất hiện rất trễ …, rất trễ. Thời xưa ở Ấn Độ chẳng có. Khi Phật giáo được truyền đến Trung quốc, lúc ban đầu cũng chẳng có. …”… 

Thưa quý vị, 

Như lời HT Tịnh Không dạy, vốn chẳng có những việc như thế, nhưng vì là đạo từ bi, nhà Phật có câu “tùy duyên phương tiện hóa độ chúng sinh”, cho nên khi đạo Phật truyền tới nơi nào thì bèn dùng những phương tiện sẵn có để truyền bá giáo pháp, ngõ hầu không gây mâu thuẫn với dân chúng tại địa phương. Do đó, dù đạo Phật không chủ trương cúng bái, cầu xin, nhưng khi tới những quốc gia theo đa thần giáo thì cũng tùy thuận chúng sinh mà lễ bái cho dân chúng, rồi sẽ nhân đó mà giảng giáo lý nhà Phật, rất minh bạch rõ ràng, là nếu muốn thăng hoa cuộc đời trong thế giới hiện tượng tương đối, thì sống theo quy luật nhân quả, “không làm việc xấu ác, siêng làm việc tốt lành”. Nếu muốn giác ngộ bản thể Chân Tâm, giải thoát hoàn toàn như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì tu tập các pháp môn để “thanh tịnh tâm ý ”, như Thiền Nguyên Thủy, Thiền Đại Thừa, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông vân vân. Người dạy các pháp môn tu đó gọi là Thiền Sư, hoặc Đạo Sư, là thầy dạy đường lối tu, nói tắt là Sư, nghĩa là Thầy.

Về từ ngữ “thầy cúng”, Tự Điển Việt Nam của soạn giả Lê Ngọc Trụ giải thích là “tiếng gọi một cách mỉa mai những thầy chùa chuyên làm đám ăn tiền chứ không thiết gì đến kinh kệ, giáo lý nhà Phật”. Còn từ ngữ “thầy chùa” thì đó là tiếng bình dân. Những từ ngữ này đã không chính xác lại thiếu tính cách tôn trọng bậc tu hành, chúng ta không nên dùng để chỉ quý vị đạo sư.

Nhân đây, chúng tôi xin lược trích phần nói về Đạo Sư, trong cuốn Taming The Mind, tác giả là Ni Sư Thubten Chodron, dịch giả là thầy Thích Minh Thành.

Ni Sư Thubten Chodron là một nữ tu sĩ Phật giáo Tây Tạng, gốc người Hoa Kỳ, đã từng tu tập tại Ấn Độ và Nepal từ năm 1975. Bà đi khắp thế giới để dạy Phật pháp qua những lớp thiền quán, bằng những lời giảng dạy giáo lý và cách thực hành rõ ràng trong sáng. Cuộc đời tu hành và thuyết giảng của bà được đức Dalai Lama rất khen ngợi, rằng vì sống tại cả Tây phương và Đông phương, nơi bà tu học và giảng dạy Phật pháp, bà đã được nhiều truyền thống Phật giáo khác nhau nhiệt liệt hoan nghênh vì đã hóa giải được những sự hiểu lầm đôi khi xảy ra giữa họ. Điển hình như cuốn Taming the Mind này, mà trong đó bà chỉ cách tu tập để đạt được an lạc nội tâm do ứng dụng lời dạy của đức Phật từ bi. Ngoài cuốn Taming the Mind, bà còn viết nhiều sách như Buddhism for Beginners, Working with Anger, Open Heart, Clear Mind, vân vân. 

Ý kiến của Ni Sư Thubten Chodron về nội dung từ ngữ Đạo Sư như sau: 

…”… Một vị đạo sư đang sống có thể làm được những điều mà một quyển sách không thể làm, như: 

– trả lời các câu hỏi của chúng ta; 

– nêu gương tinh tấn trong việc hành trì theo giáo pháp bằng chính đời sống cụ thể hằng ngày; 

– khích lệ và tạo hưng phấn cho chúng ta trên con đường đạo; 

– và điều chỉnh những lệch lạc trong hành vi và trong quan niệm của chúng ta. 

Sách vở có thể làm phong phú thêm và mở rộng ra những điều gì mà chúng ta đã học từ nơi vị đạo sư nhưng những mối quan hệ tâm linh giữa chúng ta với những bậc hiền trí trên con đường đạo thì sách vở không thể thay thế được.

Khi chúng ta mới tìm hiểu Phật giáo, có lẽ chúng ta không có một vị đạo sư tâm linh riêng biệt nào. Như vậy là tốt. Chúng ta có thể học hỏi từ những vị đạo sư khác nhau và theo đó mà thực hành. Những người thích theo Phật giáo một cách tổng quát thì có lẽ không cần phải chọn lựa một vị đạo sư. Tuy nhiên sau một thời gian tinh cần tu tập thì người ta sẽ cảm thấy cần xây dựng nên mối quan hệ thầy trò với một vị đạo sư tâm linh. Nhờ vậy, người ta có thể nhận được những lời dạy bảo tâm huyết hơn.

Ngày nay có tình trạng nhiều vị xưng là đạo sư quá, mỗi vị đều có thể dạy lý thuyết này, hay lý thuyết khác, và đều có bề ngoài phô diễn tốt với mục đích được nhiều người theo. Nhưng nếu chúng ta là những người thành tâm cầu đạo, chúng ta sẽ cảm thấy không có lý thú gì trong sự phô diễn mang tính hình thức ấy. Điều mà chúng ta tìm cầu là thực chất chớ không phải phô diễn.

Có thể chúng ta phải tốn thời gian trong việc tìm kiếm và xác định vị đạo sư của mình. Khởi sự, chúng ta có thể tham gia những buổi thuyết giảng và học hỏi nơi những vị giảng sư, nhưng khoan xem vị nào là đạo sư tâm linh của mình. Việc này giúp cho chúng ta có thể xem xét những phẩm chất của những vị ấy và cũng xem xét khả năng của chúng ta trong việc thiết lập mối quan hệ. 

Không có lợi thế gì khi chúng ta chọn một vị đạo sư tâm linh chỉ vì vị này có nhiều chức tước, ngồi trên những ghế cao, mặc những bộ y trang trọng và đội những cái mũ uy nghiêm gây ấn tượng, vì những thứ đó đều có thể mua được. Chúng ta không nên dựa vào những hình thức bên ngoài mà nên tìm kiếm những phẩm tính tốt đẹp. Chúng ta cũng không nên chọn một người nào đó làm thầy, chỉ vì người ấy đã là thầy của bạn chúng ta. Chúng ta phải tự mình chọn lấy, dựa theo những phẩm chất và những tiếp xúc trực tiếp của chúng ta.

Trong Đại Thừa Lăng-già kinh, ngài Di lặc đã phác thảo ra 10 phẩm tính của một vị đạo sư tâm linh tuyệt vời. Đó là:

1. Có đạo hạnh thanh khiết. Vị đạo sư là gương sáng để chúng ta nương theo tu tập. Vì chúng ta cần phải chuyển hóa những hành vi, lời nói và tâm ý sai quấy, nên chúng ta phải khôn ngoan chọn vị thầy nào đã có tự thân chuyển hóa rồi. Vị thầy này sẽ dạy cho chúng ta cách để cải thiện bản thân và sẽ làm gương tốt cho chúng ta theo.

2. Có kinh nghiệm trong việc thiền định.

3. Có hiểu biết thâm sâu về giáo nghĩa liên quan đến trí tuệ. Ba phẩm chất đầu tiên này cho thấy rằng đây là một vị đã khéo tu tập Ba Pháp Môn dẫn đến giải thoát là Giới, Định và Trí Tuệ.

4. Có kiến thức uyên bác và nhiều kinh nghiệm tu tập hơn chúng ta.

5. Có lòng nhiệt tâm bền bỉ trong việc dạy bảo và hướng dẫn đệ tử. Nếu chúng ta chọn một vị thầy không ưa việc dạy bảo hay lười nhác trong việc hướng dẫn thì chúng ta sẽ không học được bao nhiêu.

6. Là vị đạo sư đầy đủ tư cách, có kiến thức uyên thâm về Thánh điển và chỉ dạy chúng ta những điều phù hợp với nội dung tư tưởng trong Thánh điển. Những vị nào tự sáng tác ra giáo nghĩa riêng, đi lệch hay đi quá xa những lời Phật dạy thì không thể nào chỉ cho chúng ta con đường để chứng ngộ được.

7. Có nền tảng tư tưởng chín chắn hay có thiền chứng về tánh không.

8. Có kỹ năng diễn đạt giáo pháp một cách rõ ràng và dễ hiểu.

9. Có động cơ là lòng từ ái và lòng bi mẫn vô lượng. Đây là điểm vô cùng quan trọng. Chúng ta không thể đặt niềm tin vào một người lấy việc dạy đạo để được kính trọng và lợi dưỡng. Thật là nguy hiểm khi chúng ta bị người như vậy làm cho lầm đường lạc lối; chúng ta sẽ hoang phí thời gian và rất dễ bị vương vào những hoạt động không trong sáng. Vì vậy, thật là quan trọng trong việc chọn người thầy có chí nguyện chân thật và thanh tịnh, một người thầy muốn làm lợi ích cho học trò và dẫn dắt học trò trên con đường giải thoát giác ngộ.

10. Có tính kiên nhẫn và sẵn lòng chỉ dẫn cho những người cần cầu học đạo dù họ thuộc bất cứ trình độ nào. Vì chưa phải là người hoàn hảo và còn những tâm thái nhiễu loạn như tham chấp và sân giận nên chúng ta vẫn còn phạm phải sai lầm. Chúng ta cần những vị thầy không bao giờ có ý từ bỏ học trò, những vị đạo sư có tính nhẫn nại và khoan dung cho học trò. Hơn thế nữa, chúng ta cần những vị đạo sư không thối chí khi học trò không hiểu được điều thầy muốn dạy. 
Không dễ dàng gì có thể tìm được những vị thầy có tất cả những đức tính trên. 

Trong trường hợp này thì những đức tính quan trọng nhất mà người thầy cần nên có là:

1. Có nhiều phẩm tính tốt đẹp hơn là khuyết điểm.

2. Xem trọng việc tu tập đạo hạnh để đạt được hạnh phúc trong tương lai hơn là thụ hưởng những cuộc vui trong hiện tại.

3. Có tấm lòng quan tâm đến người khác hơn là bản thân của mình.

Để biết được những phẩm chất tốt đẹp của thầy, chúng ta cần xem xét hành xử của thầy, nhận thức về Phật pháp của thầy và cách thầy chỉ dạy học trò. Không phải là sáng suốt khi hỏi một vị thầy dạy giáo lý: “Thầy đã chứng ngộ chưa?” Vì ngay cả khi đã chứng ngộ thầy cũng sẽ không cho chúng ta biết. Đức Phật cấm đệ tử tuyên bố cho công chúng biết những gì mà mình đã chứng ngộ được. Đức Phật muốn đệ tử của Ngài khiêm tốn và chân thành. Người phàm tục ngược lại muốn phô trương những thành tích của bản thân. Con người tâm linh không nên giống như vậy: mục đích của con người tâm linh là chế ngự tự ngã chớ không phải là khuếch đại nó.

Chúng ta có thể có rất nhiều thầy, nhưng chỉ có một vị là đạo sư tâm linh quan trọng nhất. Đó chính là vị mà chúng ta kính tin nhất và có thể giãi bày tất cả những gút mắc nghiêm trọng trong tâm hồn. Đó chính là bổn sư của chúng ta. Bổn sư có thể là vị đầu tiên khai tâm cho chúng ta trên con đường đạo, đã đưa chúng ta vào con đường thăng tiến tâm linh. Bổn sư cũng có khi là vị mà chúng ta cảm thấy thân thiết nhất.

Sau khi chọn được thầy rồi chúng ta nên tận tâm nghe theo những lời thuyết giảng của vị thầy đó về Chánh pháp để tu tiến trên con đường đạo.

Chúng ta nên quan tâm đến những nhu cầu trong đời sống của thầy để phục vụ và cung cấp cho thầy. Khi chúng ta nhận ra tấm lòng của thầy trong việc định hướng cho tâm thức chúng ta trên con đường đi đến hạnh phúc thì chúng ta sẽ cảm thấy sung sướng khi được giúp thầy. Vì thầy của chúng ta hành đạo để đem lại lợi lạc cho mọi người và để hoằng dương Phật pháp nên những đóng góp của chúng ta cho thầy sẽ rất là hữu ích.

Thật ra, sự cúng dường thù thắng nhất của chúng ta cho thầy là công phu tu tập theo Chánh pháp. Nếu chúng ta có tài của và vật chất, năng lực và thời gian thì chúng ta cũng có thể cúng dường. Tuy nhiên chúng ta không nên xao lãng việc tu tập vì việc tu tập mới chính là mối quan tâm hàng đầu của vị thầy tâm linh đúng nghĩa. Khi chúng ta nghe theo những lời thầy dạy và gìn giữ những giới điều mà chúng ta đã thọ lãnh thì đó chính là điều mà thầy của chúng ta cảm thấy hạnh phúc nhất so với tất cả những thứ khác.

Chúng ta xây dựng nên mối quan hệ với thầy ngõ hầu thăng tiến trí tuệ và trách nhiệm tự thân. Không phải là sáng suốt khi nghe theo lời thầy một cách mù quáng chỉ vì “người đó là thầy của tôi vì vậy tất cả những gì người đó dạy là đều đúng cả”. 

Chúng ta cũng không nên muốn được thầy ưu ái bằng những lời nói ngọt ngào nhưng không thành thật. Vị thầy tâm linh muốn cho mọi người đều được hoan hỷ, và vì vậy nếu chúng ta lấn át hay cư xử tệ bạc với người khác thì chúng ta đã làm ngược lại những lời thầy dạy. Nếu chúng ta xem trọng thầy của mình và khinh thị những người khác có nghĩa là chúng ta đã không hiểu chân nghĩa của đạo Pháp. Để đạt được ý nguyện thăng tiến trên con đường đạo chúng ta phải hành xử với thầy và với mọi người với tâm thành kính.

Mục đích của việc tìm cầu một vị thầy không phải là để làm thỏa mãn tự ngã của chúng ta mà là để diệt trừ vô minh và vị kỷ qua việc tu tập theo Chánh pháp. Khi thầy chỉ ra được những lỗi lầm mà chúng ta đã mắc phải thì chúng ta nên vui mừng. Bởi vì có quan tâm đến chúng ta đúng mức thầy mới có thể làm được như vậy. Thầy đã tin rằng chúng ta sẽ đón nhận lời khuyên bảo chớ không cảm thấy bị xúc phạm. 

Theo dòng thời gian mối quan hệ giữa chúng ta và thầy sẽ dần dần phát triển tốt đẹp. Mối quan hệ này có thể trở nên rất là quý báu vì thầy cho ta những lời dạy bảo và chỉ dẫn chân tình đầy từ bi và trí tuệ. Nhờ đó chúng ta sẽ thăng hoa được những phẩm tính tốt đẹp và có thể tẩy sạch những cấu uế của bản thân. Mối thân tình giữa chúng ta với vị đạo sư tâm linh, tức là vị thầy thật sự quan tâm đến phước lạc và thăng tiến tâm linh của chúng ta khác xa với những mối quan hệ giữa chúng ta với mọi người. Thầy của chúng ta sẽ tiếp tục giúp đỡ chúng ta, dù chúng ta có thăng trầm vinh nhục gì gì đi nữa. Điều này không có ý cho phép chúng ta hành động cẩu thả bất kể hậu quả. Điều muốn nói ở đây là chúng ta không cần phải có tâm trạng lo âu rằng thầy sẽ cắt đứt mối quan hệ với chúng ta nếu chúng ta phạm phải những sai lầm. Vị thầy tâm linh thật sự sẽ có tánh khoan dung và lòng từ ái và vì vậy chúng ta có thể tin tưởng hoàn toàn.

Khi chúng ta càng hiểu biết sâu xa về con đường đưa đến giác ngộ thì mối quan hệ thầy trò cũng càng thâm trọng vì tâm hồn của chúng ta đã có nhiều điểm tương đồng với tâm hồn của thầy. Ý chí tìm cầu giải thoát của chúng ta càng trở nên khẳng quyết và tâm xả thân bố thí cũng trở nên dũng mãnh hơn thì chúng ta cảm thấy càng gần gũi với thầy vì cả hai cùng chí hướng, cùng mục đích. Hơn nữa, chúng ta tu luyện được trí tuệ về không tánh thì chúng ta đoạn trừ được cảm giác cách biệt ta người nói chung; cảm giác cách biệt ta người có ra là do chúng ta mê lầm về tính hữu thể của hiện tồn. Khi chúng ta đạt được đạo quả giác ngộ thì sự chứng đạt của chúng ta không khác với sự chứng đạt của thầy….”…

Trên đây là định nghĩa của Ni Sư Thubten Chodron về phẩm cách của một vị Đạo Sư .

Liên Hương (ĐPK)

Nguồn: Chương trình phát thanh Thư viện Hoa Sen

.

 

Tâm cảm Lễ Vu Lan – Mother’s Day


Trong một dịp tham dự lễ mừng Mother’s Day tại nhà một người bạn, chúng tôi nghe thấy một bà khách thì thào với bà bên cạnh, giọng dè bỉu:

– Ui da, người Tây Phương cả năm mới có một ngày Mother’s Day để nghĩ đến mẹ, người Việt mình một năm 365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ, đâu phải chỉ có mỗi ngày hôm nay mà phải bày vẽ, bắt chước họ, rõ thật là “phú quý sinh lễ nghĩa”!

“365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ”, có thật là như vậy không ạ?

Xin thưa rằng chuyện đối xử với cha mẹ ngày nào cũng đẹp như Mother’s Day là chuyện xảy ra vào thời xa xưa, những người ngàn thu cũ đã làm như thế, chứ còn thời nay thì quả là rất hiếm hoi rồi. Hiếm hoi không hẳn là vì người thời nay không có hiếu bằng người thời xưa, nhưng là vì những điều kiện khách quan nó không còn cho phép chúng ta dành nhiều thời giờ cho cha mẹ nữa.

Có một vị thính giả gửi thư tới chúng tôi, tâm sự rằng gia đình ông có mẹ già, hai vợ chồng và 1 đứa con 3 tuổi. Mẹ ông hiện đang ở trong nursing home. Cụ thì vẫn còn tỉnh táo, vẫn còn đọc báo, nghe radio được. Nhưng một chân cụ bị liệt, phải đi xe lăn. Hai vợ chồng ông đều đi làm, cháu bé gửi nhà trẻ. Cụ thì không thể ở nhà một mình, cho nên ông phải gửi cụ vào nhà dưỡng lão để có người săn sóc, vài ngày một lần, tan sở làm ông ghé qua thăm mẹ.

Nhưng từ khi cụ vào nhà dưỡng lão thì tinh thần cụ sa sút hẳn đi. Nhân viên ở đó cho ông biết rằng cụ rất ít nói, thường nằm quay mặt vào tường. Ngày nào thăm mẹ, ông cũng đều buồn bã ra về, vì cụ cứ muốn gặp cháu bé và than rằng nhớ con nhớ cháu. Mà nơi gửi cháu bé thì lại không tiện đường và giờ giấc để ông đón cháu trước khi đi thăm mẹ. Ông hỏi chúng tôi có cách nào để trọn vẹn mọi bề thì cố vấn cho ông.

Hiện nay, những chuyện đại gia đình phải gửi cha mẹ già vào nursing home xảy ra rất nhiều. Cũng là vì hoàn cảnh của đời sống, thường là hai vợ chồng đều phải đi làm. Những nhà có cha mẹ già thì khi các cụ còn khỏe mạnh, lại được các cụ giúp đỡ trông nom cháu bé, hoặc đưa đón cháu đi học, các cháu bé vừa được hưởng tình thương yêu âu yếm của ông bà, mà ông bà cũng không cảm thấy lẻ loi, cô đơn và vô dụng lúc tuổi già.

Thế nhưng khi các cụ không còn khả năng tự lo cho mình, thì thật là đáng buồn cho cả các cụ và con cái. Đưa cha mẹ vào nursing home là chuyện chẳng đặng đừng, những người con có hiếu như ông thính giả kể trên, trong lòng đầy ắp nỗi áy náy, buồn bã và thương xót cha mẹ già, mà các cụ thì lại càng đáng buồn hơn khi tuổi đã cao, bỗng nhiên mất hẳn chỗ dựa tinh thần là con cái, mất niềm vui nghe cháu bé cười nói bi bô, một mình cô đơn ở nơi xa lạ.

Cho nên, khi cha mẹ còn sống, nếu có dịp nào làm gì cho cha mẹ, thì chúng ta cứ làm, ngày giỗ, ngày Tết, ngày sinh nhật, ngày Vu Lan mùa Báo Hiếu, hay bất cứ dịp nào, cứ nên gặp gỡ, vui vẻ với cha mẹ. Tuổi già sẽ ập đến với các người, ngày cha mẹ trở nên lẫn lộn, nhìn con mà hỏi “Ông, bà là ai?” rồi cũng đến thôi. Ngày đó dù có muốn đem bình hoa tặng, thì cha mẹ cũng chẳng còn nhận ra mình là ai nữa.

Nhân đây, xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thày tỳ kheo Thích Thiện Minh về lễ Vu Lan và lòng hiếu kính cha mẹ.

Thày dạy rằng:

…“…. Nói đến Vu Lan là phải nói đến mùa báo hiếu; mùa mà những người con nam nữ nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và muốn làm việc gì đó để đền ơn đáp nghĩa. Bởi vì công ơn cha mẹ quả thật trên đời này không có gì thiêng liêng bằng. Công ơn ấy đã thấm trong ta từ thuở tượng hình, đến với ta qua hơi ấm, qua bàn tay trìu mến, qua dòng sữa bổ dưỡng và qua giọng hát ngọt ngào.

Cha mẹ là hình ảnh đầu tiên mà ta nhìn thấy khi ta mở mắt chào đời và cũng là người làm cho ta nhớ mãi nụ cười, ánh mắt và hương vị yêu thương của cha mẹ dành cho mình.

Hơn nữa, nói đến cha mẹ là phải nói đến sự hy sinh cho các con cả cuộc đời và cả tâm hồn lẫn thể xác. Chính vì tình thương và lòng hy sinh cao cả như thế, phận làm con chúng ta phải hiểu để đền ơn đáp nghĩa với đấng sinh thành dưỡng dục ta nên người.

Về phương diện đền ơn cha mẹ, Đức Phật có dạy: “Dù là tại gia hay xuất gia, dù là Thanh Văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ. Vì tâm hiếu là tâm Phật”.

Do đó, theo quan điểm của Phật giáo Nam tông, không hẳn chỉ là ngày Rằm tháng 7 âm lịch mới là ngày mà những người con phải làm cái gì đó cho cha mẹ đã quá văng, mà bất cứ lúc nào, giờ nào, ngày tháng năm nào đều cũng có thể làm cha mẹ vui lòng hoặc làm việc tích đức để hồi hướmg cho họ ở bên kia thế giới.

Đối với người tại gia cư sĩ, trong một đoạn kinh, Đức Phật dạy cách báo hiếu cha mẹ có những đoạn như sau:

— Phụng dưỡng cha mẹ : Tức phải hết lòng cung kính cha mẹ, không làm cho cha mẹ buồn khổ, không nói lời vô lễ mà thể hiện sự phụ dưỡng bằng tinh thần như thăm viếng cha mẹ trong những khi họ cô đơn, bệnh hoạn xế chiều; hoặc là sự cung phụng bằng vật chất như vật thực, thuốc thang, chỗ ở, y phục…

— Làm việc thay thế cho cha mẹ : Là chúng ta phải gánh vác tất cả những việc gì mà trước đây cha mẹ đã vì ta mà gánh chịu. Đây cũng là lẽ thưòng tình của đời sống xã hội, không riêng gì Phật giáo. Đã là người con trưởng thành thì cần phải làm thay thế cho cha mẹ, để cho cha mẹ có thời gian thụ hưởng những ngày nhàn rỗi cuối cuộc đời.

— Gìn giữ gia phong tốt đẹp : Là gìn giữ gia phong đạo đức tốt đẹp; lược bỏ đi những phong tục cổ hủ vô bổ cho gia tộc cũng như cho xã hội. Chẳng những thế, cần phải làm phát huy thêm những truyền thống tốt đẹp để làm vang xa tiếng tốt của gia tộc.

— Tạo phước hồi hướng khi cha mẹ đã quá vãng: Theo Phật giáo, khi cha mẹ còn hiện tiền thì người con phải làm sao cho cha mẹ luôn sống trong niềm an lạc hạnh phúc. Và khi cha mẹ đã quá vãng thì người con cần phải tạo thật nhiều công đức để hồi hướng phần công đức đó đến cha mẹ

Về phía người xuất gia, Đức Phật cũng cho phép nuôi dưỡng cha mẹ. Có một vị Tỳ Kheo chuyên đi khất thực nuôi cha mẹ; câu chuyện được bạch lên Đức Phật. Sau khi phán hỏi sự tình, Đức Phật chẳng những không quở trách mà còn hết lời tán thán hiếu hạnh của vị Tỷ Kheo. Ngài kết luận “Người nào muốn đạt đến cứu cánh Phật đạo, người ấy phải tuyệt đối hiếu kính cha mẹ”.

Lịch sử chép rằng, Đại đức Xá Lợi Phất, trước khi Niết bàn, cũng chọn căn phòng ngày nào Ngài đã chào đời và tìm đủ mọi cách để giảng đạo độ mẫu thân– vốn là tín đồ của Bà La Môn giáo — quay về quy ngưỡng chánh pháp. Và sau đó bà đắc quả Tu Đà Hoàn. Còn Đại đức A Nan Đa thì chọn dòng sông Kohinì làm nơi tịch diệt và Xá lợi của Ngài lại được chia đôi như ý nguyện, một phần đưa về hữu ngạn nội tổ, phần còn lại đưa về tả ngạn ngoại tổ. Thật là một đời sống hiếu hạnh trọn vẹn.

Tiêu biểu nhất là Đức Phật của chúng ta. Sau khi thành đạo, hay tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng cùng với chúng Tăng đệ tử trở về hoàng cung, ngự tại vườn Thượng Uyển, mỗi ngày Đức Phật vào cung vấn an phụ hoàng ba lần trong suốt thời gian vua cha thọ bệnh. Cuối cùng vua cũng đắc quả vị A La Hán. Khi vua băng hà, chính tự thân Đức Phật đã tắm rửa phụ hoàng, thay đổi xiêm y, làm lễ nhập kim quan; luôn cả ngày trà tỳ, Ngài cũng đưa tiễn kim quan với sự tiếp tay của chư Thánh tăng. Sau lễ trà tỳ Ngài thu nhặt Xá lợi phụ vương đem về làm lễ nhập tháp.

Trên đây là bài pháp của thày Tỳ Kheo Thích Thiện Minh. Chúng tôi cũng xin gửi tới quý thính giả thêm một hình ảnh nữa về bà mẹ, qua bức thư của đạo hữu Viên Diệu gửi tới, như sau:



… “….Tình cờ, trong lúc soạn tủ sách, Viên Diệu lượm được bài này. Nhân mùa Vu Lan, Viên Diệu xin gửi tới quý đạo hữu, để cùng ngậm ngùi với tác giả.

Bài này phần trên là Anh ngữ, phần dưới là Việt ngữ. Viên Diệu không được biết rằng phải chăng tác giả là người Việt Nam viết luôn hai thứ tiếng, hay là nguyên bản tiếng Anh do người ngoại quốc viết và có người Việt Nam nào đó đã dịch ra Việt ngữ. Sau đây là phần tiếng Việt:

KHI MẸ ĐI RỒI, ĐỜI CÓ NGHĨA GÌ ĐÂU !


-Khi con mở mắt chào đời, Mẹ ôm con trong cánh tay .
-Con cảm ơn Mẹ bằng tiếng khóc lèo nhèo không dứt.

-Khi con 1 tuổi, Mẹ cho con ăn uống, tắm rửa cho con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng những đêm dài khóc lóc triền miên

-Khi con 2 tuổi, Mẹ tập cho con những bước đầu đời .
-Con cảm ơn Mẹ bằng ngoảnh mặt chạy đi khi Mẹ gọi .

-Khi con 3 tuổi, Mẹ nấu nướng thức ăn cho con với cả tấm lòng.
-Con cảm ơn Mẹ bằng xô cả cái mâm xuống sàn nhà

-Khi con 4 tuổi, Mẹ cho con vài cây bút mầu .
-Con cảm ơn Mẹ bằng vẽ đầy lên mặt cái bàn đẹp

-Khi con 5 tuổi, Mẹ mặc cho con quần áo đẹp để con dự những ngày lễ hội .
-Con cảm ơn Mẹ bằng vẩy ngay bùn đất lên áo .

-Khi con 6 tuổi, mẹ đưa con đến trường.
-Con cảm ơn Mẹ bằng kêu khóc “Con không muốn đâu”

-Khi con 7 tuổi, Mẹ mua cho con quả banh.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách ném nó vào cửa sổ nhà hàng xóm

-Khi con 8 tuổi, Mẹ mua cho con cây cà-rem.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách trây đầy vạt áo .

-Khi con 9 tuổi, Mẹ trả tiền cho con học đàn dương cầm.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách chẳng thèm tập dượt.

-Khi con 10 tuổi, Mẹ lái xe suốt ngày đưa đón con từ sân banh đến phòng tập thể dục, từ cuộc họp bạn này đến cuộc họp bạn sinh nhật khác.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách nhẩy ào ra khỏi xe mà không ngoảnh mặt nhìn lại .

-Khi con 11 tuổi, Mẹ chở con và các bạn đi xem xi-nê .
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách yêu cầu Mẹ ngồi ở băng ghế khác.

-Khi con 12 tuổi, Mẹ không muốn con coi một vài chương trình nơi truyền hình.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách chờ cho Mẹ rời khỏi nhà.

-Khi con 13 tuổi, Mẹ muốn con cắt tóc vừa với dáng dấp của con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu: ” Mẹ quê quá!”

-Khi con 14 tuổi, Mẹ trả tiền cả một tháng trại hè cho con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách không viết cho Mẹ được một lá thư .

-Khi con 15 tuổi, lúc Mẹ đi làm về, muốn ôm con vào lòng.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cánh cửa phòng đóng lại .

-Khi con 16 tuổi, Mẹ dậy cho con lái xe .
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách tận dụng mọi cơ hội để lái xe đi biệt.

-Khi con 17 tuổi, Mẹ đang chờ một điện thoại quan trọng.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách ôm điện thoại suốt đêm dài .

-Khi con 18 tuổi, Mẹ xúc động thấy con xong được Trung Học.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách theo bạn bè vui chơi cho đến hừng sáng.

-Khi con 19 tuổi, Mẹ trả tiền chi phí Đại Học, chở con đến trường, giúp con với những túi vật dụng.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách chào từ giã Mẹ phía ngoài cửa phòng vì con không muốn bối rối trước mặt bạn bè.

-Khi con 20 tuổi, Mẹ muốn biết con đã có bạn trai chưa .
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Không phải việc của Mẹ”

-Khi con 21 tuổi, Mẹ đưa ý kiến về việc tương lai của con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Con không muốn sẽ giống y như Mẹ”.

-Khi con 22 tuổi, Mẹ muốn ôm con trong ngày lễ ra trường của con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu hỏi: ” Mẹ có cho tiền để con đi du lịch Âu Châu không?

-Khi con 23 tuổi, Mẹ cho con bàn ghế khi con dọn vào căn gia cư đầu tiên.
-Con cảm ơn mẹ bằng câu :” Chúng xấu xí quá!”

-Khi con 24 tuổi, gặp người yêu của con, Mẹ hỏi :” Cậu có ý nghĩ gì về tương lai?”
-Con cảm ơn Mẹ bằng sự giận dữ, gầm gừ :” Thôi đi Mẹ!”

-Khi con 25 tuổi, Mẹ đã giúp cho chi phí về đám cưới của con, vừa rơi lệ, vừa nói: ” Mẹ rất thương con”.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách dọn đi xa nửa vòng đất nước.

-Khi con 30 tuổi, Mẹ gọi điện thoại với một vài lời khuyên về cách nuôi cháu
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu: “Thời buổi bây giờ đã khác rồi”.

-Khi con 40 tuổi, Mẹ nhắc nhớ con về ngày sinh nhật của các thân nhân.
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu trả lời :” Con rất là bận”

-Khi con 50 tuổi, Mẹ trở bệnh, già, yếu, cần sự giúp đỡ của con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng kể lể về gánh nặng cha mẹ già đối với con cái …

Và rồi một ngày kia, Mẹ lặng lẽ qua đời .
Tất cả những điều con chưa hề làm cho Mẹ xẹt qua tâm trí con như tiếng sấm rền.
Hãy ru con … Hãy ru con suốt đêm dài …
Bàn tay Mẹ ru thủa con còn nằm trong nôi có thể ru cả thế giới này …
… Mẹ ơi !

.