Archives

Chuyến hải hành may mắn – Hồi ký

Khoảng 10 giờ sáng ngày 11 tháng Tư năm 1980, tôi ra khỏi nhà lần cuối. Đó là mái ấm gia đình, nơi che mưa nắng cho chúng tôi biết bao nhiêu năm trường, nơi đã cùng khóc cười với chúng tôi, chung với chúng tôi  biết bao nhiêu kỷ niệm của cuộc đời. Ở đó, chúng tôi tạo dựng ”Nhà in và nhà xuất bản Huyền Trân”, cùng với ông Nguyễn Hùng Trương, chúng tôi phát hành tuần báo Thiếu Nhi của tuổi trẻ. Vào những ngày Chủ Nhật và nghỉ lễ, căn nhà đó vang rân tiếng cười của hàng trăm độc giả, tới vui chơi, đọc sách, điều hành Tủ sách Gia đình Thiếu Nhi, đói thì chạy lên bếp lục cơm nguội chan xì dầu … ôi … biết bao nhiêu ánh mắt sáng ngời, tâm hồn trong sáng đã tỏa rực rỡ dưới mái, ngoài hè, ngoài sân của căn nhà đó.

Nước mắt lưng tròng, tôi chào từ biệt bố mẹ, trong lòng cảm thấy như đây là lời chào vĩnh biệt vì vốn được nghe kể về số phận không may của nhiều ghe đã chìm sâu vào lòng đại dương. Bố tôi đang ngồi, tôi đứng sau lưng bóp hai vai bố, thấy rung rung, có lẽ bố đang thổn thức nghĩ “biết có còn gặp lại nhau chăng?”. Vì phải giữ bí mật cho cuộc trốn chạy nên ngoài bố mẹ tôi, trong nhà không còn ai biết. Các con tôi lẻ tẻ từng người đã ra khỏi nhà như đi làm và đi học, không khác ngày thường.

Sau 9 ngày gian nguy lênh đênh trên biển, chúng tôi may mắn đã tới được bờ biển Mã Lai. Ngày 12 tháng 10, chúng tôi tới Mỹ, cả gia đình đoàn tụ tại tỉnh Portland, tiểu bang Oregon, nơi con trưởng của chúng tôi vượt thoát từ năm 1975 thuê 1 căn apartment tiện nghi cho bố cháu đã đến Mỹ trước chúng tôi mấy tháng, nay cùng chúng tôi gộp lại là đoàn tụ toàn thể gia đình.

Tháng 2 năm 1987, chúng tôi cũng bảo lãnh được bố mẹ tôi qua đoàn tụ với chúng tôi. May mà chúng tôi đã dời từ tiểu bang Oregon về miền nam California, cho nên bố mẹ tôi đã thích hợp ngay được với khí hậu ôn hòa tại đây. Bố tôi qua đời tháng 12 năm 1990, tức là được hưởng không khí tự do tại Mỹ gần 4 năm, mẹ tôi mất năm 2002, tức là mẹ tôi sống tại Mỹ 15 năm vui vẻ thoải mái với các con cháu, thưởng thức phim bộ và thỉnh thoảng giải trí với các cụ cao niên mấy trò chơi như tổ tôm và bài chược, minh mẫn với tinh thần hài hước phong phú cho tới khi mẹ tôi qua đời, hưởng thọ 97 tuổi.

Cảm ơn tất cả những ân nhân đã giúp gia đình chúng tôi tới được bờ tự do an toàn.

Cảm ơn tất cả những đất nước và con người tử tế tại các quốc gia đã cưu mang chúng tôi trong những ngày bơ vơ, rời khỏi quê hương, lang thang vô định.

Cảm ơn đất nước Hoa Kỳ đã đưa vòng tay ra ôm lấy chúng tôi, đã giúp đỡ chúng tôi những ngày đấu ngơ ngác bước vào một xứ sở lạ lẫm, nhìn ra chung quanh chỉ thấy những con người với hình dáng xa lạ, nhưng lại có những ánh mắt ấm áp, đã dìu dắt chúng tôi từng bước hội nhập vào một thế giới mới nhưng đầy ắp tình người.

Bây giờ ngồi đây gõ keyboard, tôi muốn thắp nén hương lòng, quay về quê hương xa xôi của tôi, nước mắt lưng tròng, trước nhất tôi muốn dâng lên lời cảm tạ sâu xa nhất từ đáy lòng, cảm tạ liệt vị Tiền Nhân Tổ Tiên đã hun đúc cho tôi giữ được niềm tự hào là một người Việt Nam xứng đáng với danh dự của một con người.

Sau Tiền Nhân Tổ Tiên, tôi muốn dâng lên lời cảm tạ sâu xa tới những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, dù đã qua đời hoặc còn sống, qu‎ý‎ vị đã xông pha trận mạc, hy sinh thân mạng để giữ cho đất nước Miền Nam được sống tự do hạnh phúc suốt trong mấy chục năm trường, từ 1954 cho tới 1975, trước khi Saigon sụp đổ.

Xin cảm tạ, muôn vàn cảm tạ.

Đỗ Phương Khanh

***

Cảm ơn đất nước Mã Lai và đảo Pulau Tengah 

Nơi ghe tỵ nạn của chúng tôi vào được đất liền là đảo Pulau Tengah, cảnh và người đều vô cùng đẹp và tốt lành. Dù tôi chỉ ở đó khỏang trên 5 tháng, từ 20 tháng Tư đến đầu tháng 10 năm 1980 thì mẹ con chúng tôi được đưa qua Sungai Besi chờ chuyến bay để đi Mỹ đòan tụ với gia đình, nhưng trong tâm khảm tôi chưa bao giờ quên những ngày xa xưa ấy, những ngày mà các bạn đồng cảnh ngộ đã cùng chúng tôi ngọt bùi an ủi lẫn nhau tại hòn đảo nhỏ, vọng về quê hương xa tít mù khơi, hòn đảo đó tên là Pulau Tengah thuộc nước Mã Lai Á (Malaysia).

***

Tôi xuống ghe SS56 vào ngày 11 tháng Tư, lái ghe là anh Hùng, một học trò cũ của bố xấp nhỏ nhà tôi tại “bãi đánh” gần Bà Rịa (hình như thuộc Phước Tuy). Đi được 7 ngày thì thấy Singapore, đáp vào tưởng ngon lành, ngờ đâu lính tuần duyên lái tầu tuần chạy ra nhảy xuống ghe bảo bọn tôi phải vào “Trại” ở phía bên kia. Bọn này hí hửng yên chí qua được “phía bên kia” là sẽ lên bờ, một cô vui vẻ trẻ trung còn “hồ hởi phấn khởi” cười nói:

– Tới trại mình tót ra đi nhảy.

Ai cũng vui quá, lúc đó là khỏang 6 giờ chiều. Tụi lính ròng dây chão từ tầu của họ xuống ghe mình bảo là để đi cho nhanh.

Nhưng cứ thấy đi mãi mà chưa thấy “trại”… Đương lúc cả bọn băn khoăn thì mấy tên lính Singapore nhảy xuống bảo đưa la bàn và bản đồ cho họ, xong họ cho thêm dầu vào ghe mình rồi nhảy lên tầu của họ ném thực phẩm xuống, chặt đứt dây, chỉ tay về phía nào đó bảo là phải đi Indonesia kẻo họ bắn. Rồi tầu họ bỏ chạy. Ghe tụi mình đuổi theo, họ quay lại bắn lia chia. Tài công sợ quá vội chạy dạt ra.

Qua ngày hôm sau bà con thấy la bàn và bản đồ đã mất, bọn mình thất vọng quá nhao nhao bàn quay về Thái Lan. Tôi bèn tới chỗ Hùng ngồi đề nghị:

– Hùng à, chú là học trò của Thày, tôi trông cậy vào chú. Nay chú nghĩ tình thày, đi tới thêm 1 ngày, nếu còn vô vọng thì tôi không yêu cầu gì nữa.

Hùng khẳng khái:

– Em đi với cô thêm đúng 24 tiếng, nếu không còn hy vọng thì em quay lại.

(Hùng ơi, cô hết lòng cảm ơn em, đã trên ba chục năm trường, chưa bao giờ cô quên tấm lòng của em đã vì nghĩ tới thày mà nghe theo lời cô yêu cầu. Em ở Na Uy, có khi nào đọc được những dòng này, nhớ liên lạc với thày cô em nhé).

Nhắc đến chuyện này tôi xúc động lắm, muốn khóc.

22 tiếng đồng hồ sau, vào lúc 4 giờ chiều, ghe chúng tôi gặp một ghe đánh cá người Mã Lai. Chúng tôi vẫy, họ xáp lại, một người bên ghe chúng tôi nhảy qua thảo luận, họ đòi cho họ 2 nhẫn vàng, chúng tôi vội giao ngay, họ bèn chạy ghe họ phía trước, chúng tôi theo sau. Khỏang một lúc lâu, trời gần tối, xa xa chúng tôi nhìn thấy dẫy lều màu xanh nhạt, họ chỉ chỉ ra hiệu rồi đưa tay lên cổ ý nói đó là trại tỵ nạn họ không dám giúp chúng tôi tới gần hơn, sợ lính chặt cổ.

Chúng tôi biết đã thóat chết, chắp tay vái chào họ rồi tài công cho ghe từ từ đi vào, tới gần bờ chúng tôi nhảy xuống nước lội. Trong trại cử người ra đón.

Thóat chết.

Trại đó nhỏ, gồm Bắc Đảo, Trung Đảo và Nam Đảo. Hồi cao điểm là năm 1978, do phong trào đi bán chính thức, có lúc chứa tới trên 10 ngàn người. Khi chúng tôi tới là năm 80, người ta đã đi định cư gần hết, chỉ còn khỏang 3 ngàn thôi. Tôi còn nhớ có gia đình hai bác Đào Đức Hoàng và bà ngọai là mẹ bác gái hiền lành tốt bụng, có BS Phan Hồng Huấn và 2 cô con gái rất xinh và nhiều người hiền lành tốt bụng lắm.

Vì lúc ấy đảo còn ít người nên Cao Ủy Tỵ Nan muốn các cháu bé ổn định sự học. Nhân thấy lý lịch tôi khai là giám đốc trường Mẫu Giáo ở Saigon, họ yêu cầu tôi ra mẫu bàn ghế Mẫu Giáo rồi họ sắp xếp ban thợ mộc trong đảo đóng bàn ghế cho các cháu ngồi, để tôi có thể cùng hai cô giáo tiếp tục sự học của các cháu.

Có một kỷ niệm tôi nhớ mà cứ cười hòai, số là có một em còn nhỏ xíu mà rất hay chửi thề, huấn luyện mãi không được. Một bữa tôi dọa:

– Con mà nói bậy nữa madame sẽ mách ba con.

Cậu bé cười toe:

– Ba cũng nói vậy à … hihi ..

Bác Hoàng giỏi tiếng Anh, làm Trại Trưởng, mở lớp dạy tiếng Anh mini trong lều của bác. Do sự siêng năng của gia đình bác nên tuy gọi là “lều” chứ coi cũng khá tươm tất nên mới có đủ chỗ cho chúng tôi ngồi. Bác dạy rất kỹ, luyện giọng rất nhuần nhuyễn, bắt “học trò” nhắc lại nhiều lần.

Âm giọng bác theo tiếng Anh vì hồi trước 75, ở trong nước chúng ta vỡ lòng tiếng Anh bằng mấy bộ Anglais Vivant Bleu và Beige …, nên phát âm kiểu Anh (thí dụ như giọng thái tử Charles). Bác bắt uốn lưỡi, nhấn giọng rất cẩn thận. Trong đám “học trò” bọn tôi có cả bà ngọai vì bà rất hiếu học. Một bữa bác dạy kỹ quá, đòi bà nhắc đi nhắc lại, nhấn giọng, uốn lưỡi mãi, bà giận đứng phắt lên, đi một hơi ra đường, chúng tôi sợ xanh mặt.

Bà rất hiền và tử tế. Hôm chúng tôi mới nhập trại, được phát cho một căn lều trống hốc trống huếch, vì khi người ở trước đi định cư thì những người còn lại cứ việc vào căn lều hoang “dọn dẹp”. Bà thấy mấy mẹ con tôi bơ vơ, bà thương cảm, bèn cùng các cháu đi lượm những miếng nylon, những bao bố, mảnh ván khắp nơi về vá víu căn lều cho ấm cúng.

(Bà ngọai và gia đình bác Hòang ơi, ĐPK và các con xin muôn vàn cảm tạ quý vị).

Lều của chúng tôi sát biển, chúng tôi thường lội xuống rửa chân. Có một đêm nước biển tràn lên quét luôn đám nồi niêu bếp núc của chúng tôi đi, sáng dậy thấy rải rác lền khên trên bờ biển.

Có người kể với chúng tôi là nghe đồn mấy năm trước vào lúc cao trào đi bán chính thức, Mã Lai lúc đó chưa có quy chế chấp nhận người tỵ nạn nên có một số ghe đã táp vào bờ rồi nhưng lại bị tầu tuần lôi ra, kéo nhanh quá nên chìm, chết từng mấy trăm người một. Sau đó, vào những đêm mưa gió biển động, nhiếu hồn ma hiện lên trên biển khóc than thê thảm lắm.

Nhưng ĐPK tôi và các con thì chưa ai chứng kiến những chuyện đó bao giờ.

Có lẽ tôi cần trình bày sơ qua về địa hình đảo Pulau Tengah. Theo tên gọi Bắc đảo, Trung đảo và Nam đảo thì có vẻ như là 3 đảo hoặc 3 khu vực, nhưng thực tế chỉ có nghĩa là phần phía Bắc hoặc ở giữa (Trung) hoặc phía Nam của đảo Tengah mà thôi.

Vào thời kỳ có phong trào ra đi bán chính thức thì người tỵ nạn lúc đó phần lớn là dân Chợ Lớn, gốc Hoa, vốn giầu có và là những người tiên phong vào đảo, cho nên họ được chia nơi tạm trú ngay tại Bắc đảo, là sát với cầu tầu, dân tỵ nạn từ ghe leo lên cầu là bước chân vào Bắc đảo.

Nhờ dân tỵ nạn gốc Hoa tiền bạc rủng rẻng và đôi khi cũng có những liên hệ bằng hữu với dân Mã Lai gốc Hoa bản xứ nên đời sống cũng dễ chịu, đảo Tengah cách đất liền 1 giờ rưỡi đường tàu thủy nên ghe thương lái đem sản phẩm vào bán cũng được lính gác Mã Lai du di, cho nên hoặt động nơi Bắc đảo vui vẻ tấp nập, tạm ví như khu phố Lê Lợi ở Saigon.

Trung đảo là tên gọi để chỉ khỏang cách giữa Bắc và Nam đảo chứ không có người ở. Thực tế, Trung đảo là một cái đèo nhỏ vươn lên hơi cao chia đôi Bắc và Nam đảo, đỉnh đèo vươn cao nhìn thẳng xuống lòng biển nên thỉnh thỏang có một vài cậu thanh niên ra bờ vực nhảy plongeon xuống biển. (Sau này khi chúng tôi đã rời đảo, nghe bà con sang sau kể lại rằng có một cậu trai đã nhẩy từ mỏm đèo Trung đảo, lao xuống biển chẳng may gặp đá ngầm, vỡ sọ mà qua đời).

Tuy gọi là “đèo”, nhưng chỉ lên xuống dốc sơ sơ thôi, mấy mẹ con chúng tôi thường rủ nhau ra đó leo lên đèo qua phía bên kia rồi lại leo về để tập thể thao.

Nam đảo là khu an tịnh, lều trại sơ sài vì mỗi khi có người được đi định cư thì bà con lại “cải thiện đời sống” bằng cách tiến lên thừa hưởng những tiện nghi bỏ lại. Mẹ con chúng tôi đến sau, khi trại đã gần vãn tuồng, nên được giao cho căn lều gần cuối Nam đảo, trấn thủ con đường độc đạo đi ra dãy phòng “Thủy tạ Nhẹ Khỏe” bắc chênh vênh trên biển, trống thiên trống địa.

Lều tôi có ba cô nhóc từ 14 đến 17 rất là nghịch ngợm, sáng sáng các cô bắc ghế đẩu ra điểm danh tình trạng sức khỏe của bà con Nam đảo và kiểm tra dân số đi hàng một qua lều, tay mỗi người phe phẩy mảnh giấy báo. Có hôm tôi nghe la tóang: “Mẹ ơi Chế Linh”, tôi cũng thấy “phấn khởi”, bèn quơ dép phóng ra phía trước, thì quả nhiên thấy có một đám bụi mù tràn qua, Chế Linh đi trước, theo sau là một dẫy bà con cười đùa ồn ào, mỗi người đều có mảnh giấy báo hộ thân (kể cả danh ca Chế Linh … hihi …).

Đảo Tengah rất nhỏ và đẹp nên sau khi giải tán trại, nhà nước Mã Lai sửa sang thành khu du lịch. Tôi hỏi thăm thày Gu Gồ kiếm được mấy hình

Pulau Tengah Refugee CampMalaysia

http://www.refugeecamps.net/TengahStory.html

Nói chuyện tỵ nạn mà quên một vai trò quan trọng thì thật là … tội lỗi… tội lỗi … Đó là vai trò mà tất cả dân tỵ nạn chúng ta không thể không có và không thể quên, nhân vật đó là “bông-xoa” (sponsor, người bảo lãnh), ở đảo chúng tôi không nói tiếng Anh phiền phức mà cứ gọi là “bông-xoa”.

Những người có thân nhân ở ngọai quốc thì không phải lo vì đã có thân nhân bảo lãnh. Trường hợp không có thân nhân ở ngọai quốc thì chỉ trông mong thần may mắn dun dủi, gặp được “bông-xoa đại nhân” đàng hòang mà thôi.

Tôi không biết gì nhiều về các quy chế tỵ nạn, hành chính linh tinh, chỉ buồn vui theo gương mặt những bạn láng giềng trên đảo sau những buổi bà con được Cao Ủy Tị Nạn phỏng vấn. Và tôi cứ nhớ mãi cụm từ “bông xoa lủng”. Đó là trường hợp những người đã được báo tin là có sponsor rồi , nhưng bỗng sau đó lại được tin sponsor từ chối không bảo lãnh nữa. Hòan cảnh chúng tôi lúc đó rất thất thế… chờ đợi … chờ đợi rồi chẳng may thất vọng thì … rất buồn.

Nhưng đời không bắt ai phải buồn hòai, ngòai niềm mơ ước vĩ đại là được sớm đi định cư, chúng tôi cũng có những niềm vui nho nhỏ, đó là vào mỗi Thứ Tư, chúng tôi được tầu thủy nhỏ của Cao Ủy ghé qua mang theo thư gửi tới cho chúng tôi và nhận thư của chúng tôi viết cho thân nhân để gửi giúp chúng tôi.

Lều tôi tận cuối Nam đảo nhưng loa phóng thanh vẫn vọng tới. Những ngày đó chúng tôi vui vẻ tưng bừng chờ đợi từ sáng, khỏang 2 giờ chiều thì có tiếng rọt rọet thử loa, rồi tiếng gọi tên vang lên … ui da… chúng tôi rất vui vì tuần nào cũng có thư.

Tầu đưa thư đồng thời cũng tiếp tế đồ ăn tươi cho chúng tôi. Mỗi tuần khẩu phần mỗi gia đình chúng tôi trung bình có chừng nửa con gà nhỡ nhỡ, dân Mã Lai nhiều người theo đạo Hồi không ăn thịt heo cho nên họ không phát thịt heo, chỉ có gà thôi. Chúng tôi cũng được phát mấy trái cây và mấy mớ rau.

Thịt gà thì tôi kho mặn, cũng ngon lắm. Nhưng rất vui là một bữa kia có ghe nhập trại, trên ghe có nhà công nghệ giò chả Phú Hương. Vừa mới nhập trại một tuần, ông đưa ra ý kiến: “Ai muốn ăn giò gà thì ông chế biến giúp cho”.

Thế là chúng tôi ùa nhau giao thịt cho ông làm thành giò sống để nấu canh và chiên lên thành “chả gà chiên”, ăn ngon tuyệt… Cảm ơn ông Phú Hương.

Nhân nói đến “thịt”, tôi lại nhớ cái ngày ghe chúng tôi bị tầu tuần Singapore lôi ra biển, trước khi chặt đứt dây chão từ ghe chúng tôi nối vào tầu lớn, họ ném xuống cho chúng tôi rất nhiều đồ hộp, và nói ra qu‎ý‎ vị đừng cười, họ ném xuống cả một bịch giấy cuộn để đi vệ sinh (nôm na là đi cầu), ui da, chúng tôi còn bụng dạ nào mà đi đâu cho nổi!!!

Thế rồi chỉ hai ngày sau chúng tôi vào được Mã Lai, thịt hộp còn nguyên. Khi lính tuần duyên Mã Lai xuống lục sóat, việc đầu tiên là họ ném tuốt luốt tất cả những hộp thịt xuống biển… ui da … tiếc ơi là tiếc …

Tôi lại mới nhớ ra một việc, phải cảm ơn cậu Trưởng ban Tiếp Tân tốt bụng. Khi ghe chúng tôi cập bến, cậu cùng lính tuần duyên Mã Lai nhẩy xuống đầu tiên. Chỉ sau một cái liếc, cậu nói giọng rất nhẹ:

“Bà con cất bớt vàng đi, họ sẽ thu lại để giữ giùm, nhưng cất trong mình vẫn chắc hơn”.

Thế là trong khi lính còn lục sóat kiểm tra thì mấy bà bạn đồng hội đồng thuyền của tôi đã tẩu tán không còn dấu vết.

Nếu không có cậu nhắc nhở thì vài quý bà khá giả đi trên ghe chúng tôi không biết có còn được đeo dây chuyền và lắc vàng loang lóang nữa chăng, quý bà ngây thơ hồn nhiên mà có vị còn mang cả dưa leo để đắp mặt bảo vệ da khỏi bắt nắng trên biển, chao ôi, vị nào tình cờ đọc tới đây thì cười xòa mà đừng giận tôi nhé, nhưng quả thật quý vị đã quá may mắn đấy ạ.

ĐPK

Bức Ảnh Kỷ Niệm

Đó là vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập của tòan dân Việt Nam. Khi cuộc chiến giữa Việt Nam và Pháp bùng nổ vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 thì gia đình chúng tôi từ Hà Nội tản cư ra khỏi thủ đô theo đường ngược mà di chuyển dần lên tới tỉnh Hòa Bình. 

left align image

 

 

 

 

 

Hòa Bình là quê hương của dân tộc Mường. Họ là những người rất chất phác, sống hồn nhiên, đơn thuần như những người Việt Nam cổ xưa. Tiếng nói của họ đôi khi nghe từa tựa như tiếng Việt. Những người lớn tuổi được gọi là “ông bố” và “bà mế”, như các từ “bố mẹ” vậy. 

Họ ở nhà sàn để tránh lam sơm chướng khí, dưới gầm nhà sàn họ nuôi gia súc, không cần hàng rào mà không sợ mất trộm vì họ rất thật thà, tin tưởng chòm xóm. Họ cũng không e ngại người lạ đến ăn trộm vì họ tin tưởng ở “ma xó”, nó sẽ đếm từng món bị trộm và tên trộm sẽ đền tội bằng sự đau ốm nặng nề cho đến lúc phải mang trả lại những món đồ đã trộm được, họ tin chắc như thế.

Người Mường thường ăn gạo nếp đồ lên bằng những cái trõ (xửng hấp) được khóet từ những khúc cây mít rồi đục lỗ cho hơi nước xông lên sẽ chín cơm nếp. Mùa gặt, họ đem những bó lúa về nhà, chất lên gác bếp, mỗi ngày rút xuống vừa đủ ăn, đem ra tuốt hạt, bỏ vào cối để ngay nơi chân cầu thang, mấy thanh niên thiếu nữ trong nhà cùng nhau dùng chầy giã ra rồi sàng xảy, lọai bỏ trấu, cám, rửa sạch, trút vào trõ đồ lên, ăn ngày nào thì giã gạo, đồ xôi cho ngày đó.

Có một câu như là quy ước mà sau bao nhiêu năm tôi vẫn nhớ là:

“Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày kể lùi, tháng kể lên”.

left align image

 

 

 

 

 

 

 

 Cây luồng

Hai câu đầu tôi đã trình bày, câu thứ ba là “nước vác”, họ dùng những cây luồng, là lọai cây họ nhà tre, nhưng rất cao lớn, chiều cao thân cây có thể lên tới trên 10 mét, đường kính trên một tấc. Họ cưa một khúc khỏang 2 mét, khóet ruột, đục thủng những đốt cho thông nhau, chỉ để một đốt dưới đáy, rồi dùng những khúc luồng đó vác lên đầu nguồn hứng nước từ khe chảy ra cho đầy ống rồi vác về đổ vào lu ngay dưới chân bậc thang, là khỏang 5, 7 bậc cấp làm bằng gỗ bước lên nhà sàn. Lu nước đó có thể để uống sống, có thể để nấu ăn hoặc rửa chân cho sạch trước khi leo lên bậc cấp để vào nhà sàn.

“Lợn thui” là mỗi khi có hội hè đình đám, họ mổ lợn (heo), đem thui chín rồi trải lá chuối lên trên mặt sân, bày rượu cần và thịt ra ăn uống say sưa. 

“Ngày kể lùi” là người Mường tính theo âm lịch rồi lùi lại một ngày là ngày của họ, “tháng kể lên” là về tháng thì cộng thêm 1 tháng vào âm lịch là tháng của người Mường, thí dụ ngày 15 tháng 2 âm lịch tức là ngày 14 tháng 3 của người Mường.

 

left align image

 

 

 

 

Nước vác

Đời sống của những người Mường mà tôi biết khi còn nhỏ rất trong sáng và tin cậy lẫn nhau. Họ sống kiểu đại gia đình. Ngay giữa nhà là cái bếp gần như hình vuông, quanh năm có hơi ấm. Buổi sáng cả nhà ngồi chung quanh bếp, trên những cây gỗ xếp chạy quanh bếp như những chíêc ghế dài. Một cái điếu cầy được chuyền tay từ ông bà cho tới cháu chắt, hết người này tới người kia, thay nhau rít hơi ấm của khói thuốc. Họ bắt đầu ra đồng làm việc lúc mặt trời lên. Mặt trời miền rừng núi thường lên trễ, cảnh trí âm u cho tới khỏang 10 giờ sáng mọi nguời mới lục tục “đi làm”. Trâu kéo cầy trên Mường cũng chỉ bắt đầu làm việc lúc 10 giờ sáng.

left align image 

Lợn thui

Họ bắt đầu ra đồng làm việc lúc mặt trời lên. Mặt trời miền rừng núi thường lên trễ, cảnh trí âm u cho tới khỏang 10 giờ sáng mọi nguời mới lục tục “đi làm”. Trâu kéo cầy trên Mường cũng chỉ bắt đầu làm việc lúc 10 giờ sáng.

Đây là tôi nói về những người Mường đơn thuần sống vào khỏang những năm 1940, thời gia đình tôi đi tản cư lưu ngụ tại miền núi tỉnh Hòa Bình, cách nay đã trên sáu chục năm, khi đó tôi mới khỏang 12 tuổi. Thời đó dường như người dân Việt Nam trên cả nước đều còn rất chất phác, dù đời sống có khó khăn, nhưng chưa bị nhuộm bởi chủ nghĩa vô thần, phi luân lý.

Những gia đình Mường đã dung chứa chúng tôi trong lúc quốc phá gia vong… ôi … tôi không quên được họ… không thể quên được .

Họ là những người rất hiếu khách. Trong mỗi nhà đều có một cái “sập vía”, tức là một cái divan bằng gỗ quý, chỉ dành khi các quan lang tới thì “ngự”. Dân tản cư chúng tôi được họ nhường cái “sập vía” đó cho xài. Họ rất hiếu học, các cô cậu bé trố mắt nhìn chúng tôi đọc thông cáo, tin tức … vanh vách, bèn mè nheo với bố mẹ ra sao không biết, một hôm có ông trửơng làng đến thăm bố mẹ tôi, đề nghị gia đình tôi cử một người con đi dạy cho các cô cậu tại nhà hội họp của làng mỗi tối. Sở dĩ họ tìm đến nhà bố tôi vì trước đây bố tôi khai mỏ diêm tiêu trên khu vực Hòa Bình nên quen biết quan lang tỉnh, có giao dịch thành ra đối với dân làng có uy tín. Năm đó anh tôi 15 tuổi, cao lớn, nên họ hy vọng mời anh tôi làm “thày giáo”.

Nhưng anh tôi dứt khóat không nhận, đùn cho tôi, khi đó mới 12 tuổi. Tôi hăng hái nhận liền, tôi thích phiêu lưu. Thế là dù chỉ mới học lực tiểu học, nhưng ông trưởng làng rất hoan hỉ có “cô giáo”.

Và rồi tối tối họ cử người tới cõng tôi ra nhà làng để “leo lên sập vía” ngồi dạy đám học trò vây quanh, sau giờ học lại chia nhau cõng tôi trả về nhà bố mẹ tôi. Đôi khi có phụ huynh học sinh nào ban ngày săn bắn được con gì thì họ xào lên để đến tối sau khi tan học thì tiếp đãi cô giáo nhí món ăn chơi lấy thảo. 

Tôi dậy học như thế cũng được một thời gian trước khi Pháp càn quét khắp châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Khi đó chúng tôi phải tiếp tục chạy lên cao hơn nữa thì lại chính những trai tráng của các gia đình người sơn cước hồn nhiên chất phác kia giúp gánh cho chúng tôi những vật dụng tùy thân ít ỏi mà dù ít ỏi, bọn dân thành thị chúng tôi vốn yếu ớt với những bàn chân giẫm lên đá dăm đã xưng vù, phải dùng gậy chống để lần từng bước, không còn mang nổi cái gì ngòai tấm thân đã rã rời.

Dài dòng mô tả về sự tử tế và chân thành của những người sơn cước hiền lương để rồi tôi sẽ nói về “Bức Ảnh Kỷ Niệm”, bức ảnh mà đã trên 60 năm qua, không hề phai mờ trong tâm tưởng của tôi.

Tết năm đó có đòan Tuyên Truyền Xung Phong ghé qua làng chúng tôi đang tạm trú. Buổi tối họ đốt lửa trại, hầu hết dân làng quây chung quanh các thanh niên trong đòan, say sưa xem những mẩu kịch ngắn, hầu hết là cảnh quân Pháp mới đánh nhau đã lăn ra chết, tiếng cười vang rân xóm làng.

Sáng hôm sau trước khi đi, anh đòan trưởng có nhã ý mời tất cả những ai muốn chụp ảnh kỷ niệm ngày Xuân thì anh ta sẽ chụp để tặng. Anh ta còn đưa ra cuốn albumn trong có rất nhiều ảnh cho mọi người coi. Đó đây, những ánh mắt thán phục và những tiếng cười khúc khích của các cô nàng sơn nữ nổi lên tưng bừng như ngày hội. 

Và rồi tất cả mọi người chạy về nhà thay bộ đồ đẹp nhất để anh cán bộ sẽ chụp rồi in ra cho mỗi người một tấm, ngàn năm một thuở mà. Mẹ tôi cũng lôi anh chị em chúng tôi về nhà thay bộ “đồ hộp” (là đồ đẹp nhất để dành có việc quan trọng mới mặc) và cùng chúng tôi ra sân đứng chung với dân làng.

Sau khi sắp xếp chỗ đứng rất lâu, người này thấp ra phía trước, người kia ra đầu nọ cho cân đối… cuối cùng anh ta hô:

– Không chớp mắt … một hai ba…

Anh ta làm lại vài lần và tất cả chúng tôi quây lấy anh ta hỏi han khi nào sẽ có ảnh… anh ta trả lời chắc nịch:

– Tuần tới anh sẽ trở lại, mọi người sẽ đều có ảnh rất đẹp.

Gia đình chúng tôi không có dịp gặp lại anh ta vì chiến sự lan rộng. Trên đường tản cư ngược xuôi, một hôm bố tôi gặp lại anh phó đòan, bố tôi hỏi về tình hình những bức ảnh. Anh phó đòan cười:

– Làm gì có ảnh, anh Bảo muốn vận động quần chúng nên dùng tâm lý chiến để tạo sự quý mến thân thiện thôi. Máy không có phim chú ạ.

Bố tôi giật mình:

– Chết, thế cả làng họ hy vọng thì sao?

– Ôi, đã gọi là “tâm lý chiến” mà, chú không nhớ “cứu cánh biện minh cho phương tiện” sao? Miễn đến khi kết thúc, cách mạng thành công là chẳng ai còn nhớ chuyện ảnh iếc làm gì. Mà ngay bây giờ, chắc gì dân bản còn nhớ … 

Tối đó bố tôi kể lại câu chuyện cho mẹ tôi nghe, rồi bố thở dài… đăm chiêu…

Anh cán bộ cho là dân làng không nhớ, nhưng tôi biết chắc chắn là họ nhớ và vẫn đang hy vọng có ngày nhận được bức ảnh có họ đứng trong, bức ảnh có họ với tấm áo đẹp dành riêng cho ngày Tết, miệng nở nụ cười tươi hy vọng của mùa Xuân.

Riêng tôi, hình ảnh đám người xúng xính – trong đó có cả tôi – lăng xăng chạy qua chạy lại, cười nói rộn ràng, cặp mắt sáng trưng… này là mế Vinh đứng sau cô nàng Thảo… này là chú … gì nhỉ… tên thì tôi quên nhưng gương mặt tôi vẫn nhớ như in… chú cười lộ hàm răng xỉn vì khói thuốc… em bé … đang chen ra phía trước … chao ơi… nước mắt tôi đã lưng tròng… ôi… những con người hồn nhiên hiền lành, tử tế lương thiện ấy – những con người chất phác thật thà ấy đã bị lừa như cả nước bị lừa – có biết rằng ít nhất họ vẫn có một bức ảnh, bức ảnh trong trái tim tôi… sẽ mãi mãi cùng với tôi đi hết con đường đời… không bao giờ phai mờ.

Một buổi sáng đón Xuân Giáp Ngọ
Tháng 1 năm 2014 
Đỗ Phương Khanh

Cún Anh … Cún Em…trong gia đình …


 

Câu chuyện “Tự ái của một con chó” của bạn Phạm Thắng Vũ bỗng làm cho tôi ngậm ngùi nghĩ tới Cún Anh của gia đình chúng tôi. Tên nó là Kido nhưng ở nhà gọi nó là Cún Anh vì nhà tôi có 2 con chó giống Poodle, Cún Anh do một bạn thân của con gái Út tôi tặng con gái tôi, rồi nó bận bịu không trông nom được bèn giao cho bố mẹ trông. Kẹt là tôi vốn dị ứng (allergy) với lông chó mèo nên chỉ có bố xấp nhỏ nhà tôi phải lo. Thế rồi lũ con tôi lại tưởng bố thích nuôi chó, tới sinh nhật bố năm đó bèn tặng bố thêm một con cũng nhỏ xíu như con trước, bỏ vào túi áo coat nó thò đầu ra trông rất ngộ, được đặt tên là Cubi, nickname là Cún Em. Hai đứa được thả vào cái nôi, hễ thấy chúng tôi đến gần là chạy ngược chạy xuôi trong nôi, nhẩy lên chồm chồm đòi bế.

Hai con cùng giống Poodle nhưng tính tình khác nhau, Cún Anh rõ ràng là từ tốn và khôn hơn Cún Em. Cô bạn tặng Cún Anh cho con gái tôi còn giao cả giấy khai sinh, có tên bố mẹ Cún Anh là “Sir….” và “Dame …” gì đó, làm cả nhà tôi lăn ra cười. Đã thế, nó còn có chứng chỉ tốt nghiệp Sơ Đẳng, tức là hiểu và vâng lời khi chúng tôi ra lệnh “sit” là nó ngồi xuống, “run” là nó chạy … vân vân … Nó cũng biết vâng lời cả chuyện ăn uống, để thực phẩm của nó ra mà không chỉ vào rồi nói “eat” thì nó chỉ ngồi nhìn …

 

 Cún Em thì chỉ có giấy khai sinh, cũng có bố mẹ là “Sir” và “Dame”, nhưng không có chứng chỉ giáo dục như Cún Anh. Vì không đươc huấn luyện vào nền nếp nên nó rất ba gai, thường hay bắt nạt Cún Anh nhưng Cún Anh chỉ lùi, có lẽ là nó nhường vì khi Cún Em tới nhà thì nó đã 8 tháng tuổi.

 

Chúng nó sống trong gia đình chúng tôi gần 14 năm trời với đầy ắp chuyện vui, chúng nó ít gây chuyện buồn lắm. Nhưng thôi, kể chuyện vui của bọn Cún ra chỉ làm cho qu‎ý‎ vị hâm mộ mộc tồn thấy ngứa mắt, lại rủa xả những người thương chó mèo và cưng chúng nó là đồ rởm đời. Cho nên tôi sẽ chỉ nói về sự buồn bã, mất mát khi nó ra đi vĩnh viễn mà thôi. Như trên tôi đã nói, Cún Anh khôn hơn Cún Em, nó hiểu chuyện và biêt nhường nhịn, cư xử đĩnh đạc, trong khi Cún Em chỉ là một con chó bình thường, chưa được huấn luyện mà thôi.Chúng sống trong nhà chúng tôi khoảng 10 năm đầu rất khỏe mạnh vui vẻ. Người ta nói cứ mỗi tuổi chó thì sự già nua của cơ thể chúng nó thay đổi bằng 7 tuổi người. Như thế, sau 10 năm thì coi như mấy cún nhà chúng tôi yếu đi ngang với người 70 tuổi, cho nên chúng bắt đầu đổ bệnh. Cún Anh già trước. Đầu tiên là mắt Cún Anh bị quáng, nhìn xiên xiên rồi từ từ tới mù hẳn, phải dắt nó đi. Kẹt một nỗi là tính nó cẩn thận và sạch sẽ. Bao nhiêu năm nó quen ra ngoài vườn đi tiểu, bất kể ngày đêm. Nay mù rồi nhưng bảo nó tiểu vào hộp cát để trong nhà, nó không nghe lời, đêm đêm cứ chui ra vườn bằng cái cửa nhỏ riêng của chúng nó, rồi vì mù không biết đường vào, nó cứ lang thang mãi ngoài đó, gặp trời mưa nó ướt lướt thướt. Có hôm bố xấp nhỏ đang ngủ chợt tỉnh, không thấy Cún đâu, lại phải soi đèn ra vườn tìm. Cuối cùng thì bác sĩ thú y chữa bệnh cho nó thấy nó bệnh liên miên lại có cái bướu mọc nhanh, nghi là có thể nó bị ung thư, khuyên nên chích cho nó một mũi thuốc ngủ say rồi chích thêm một mũi thuốc cho nó đi luôn thì nó không còn đau đớn gì nữa.Cả nhà bàn bạc rồi con gái thứ của tôi quyết định lái xe, tôi ôm Cún Anh đi. Khỏi nói thì các bạn cũng cảm được lòng dạ tôi lúc đó. Nằm trên đùi tôi, Cún Anh liếm nhè nhẹ ngón tay tôi rồi thiêm thiếp ngủ. Khi tôi đứng cạnh bàn mổ của Thú Y Sĩ, tay nắm chân Cún Anh, tôi không bao giờ quên được cảm giác từ thân Cún Anh truyền sang tôi, đúng là chỉ một cái uốn mình, Cún đã ra đi rồi.Trên đường về, Cún Anh lại vẫn nằm trên đùi tôi. Nước mắt tôi che mờ tất cả, chỉ còn cảm thấy thân thể bé nhỏ của Cún Anh mềm nhũn trong lòng. Tôi ôm nó, biết rằng nó sẽ chẳng còn bao giờ đứng cạnh cọ cọ vào chân tôi, sẽ chẳng còn bao giờ Cún Anh mù lòa loạng quạng lần ra khi nghe tiếng chúng tôi gọi… Cún Anh … Cún Anh … thế là hết … nước mắt tôi tràn mi, nhòa nhoạt rồi …

 

Đỗ Phương Khanh

Con búp bê và bông hồng bạch

Tôi vội vã chạy tới một cửa hàng bách hóa để quơ đại vài món quà Giáng Sinh vào giờ cửa tiệm sắp đóng. Nhìn đám người ùn lên phía trước, tôi vừa bực bội với sự trễ nải của mình vừa cố gắng xấn xổ vượt qua được đám đông chen chúc trong cái gian hàng đồ chơi trẻ con này. Giá mà tôi lăn kềnh được ra đây, ngủ thiếp đi, tỉnh dậy để phát hiện ra rằng ngày Lễ Giáng Sinh đã qua rồi thì hay biết mấy!

Bỗng nhiên, tôi nhận ra tiếng của chính tôi đang lẩm bẩm đọc giá tiền những món đồ chơi bày trên kệ và tưởng tượng cảnh mấy đứa cháu được ôm những món đồ chơi đó trong lòng. Thuận chân, tôi tiến về khu bán búp bê. Phía xéo với tầm mắt, tôi thấy một em bé trai trạc 5 tuổi đang ôm một con búp bê xinh xắn. Đứa bé nâng niu món đồ chơi trong vòng tay, còn tay kia thì cứ vuốt mãi lên mái tóc mềm như tơ của con búp bê. Tôi không thể dời mắt khỏi quang cảnh đó mà cứ chăm chú nhìn cậu bé, trong lòng thắc mắc không biết cậu ta giữ con búp bê đó cho ai vậy. Rồi tôi thấy cậu ta quay qua phía một phụ nữ đứng bên cạnh mà hỏi:

– Cô có chắc là số tiền của cháu không đủ để mua con búp bê này không?

Người cô trả lời, giọng có vẻ sốt ruột:

– Cháu biết là cháu không đủ tiền mua nó mà.

Rồi cô ta dặn cháu đừng đi đâu cả, phải đứng tại đó chờ cô ta đi mua mấy món đồ, sẽ trở lại trong vòng vài phút. Nói xong, cô đi khuất khỏi tầm mắt chúng tôi.

Cậu bé vẫn đứng đó tay ôm con búp bê. Ngập ngừng một chút, tôi cất tiếng hỏi cậu định mua con búp bê cho ai. Cậu bé trả lời:

– Đây là con búp bê mà em cháu thích được tặng vào dịp Giáng Sinh này lắm. Em cháu biết chắc là Santa Claus sẽ mang tới cho em.

Tôi bảo cậu bé:

– Có lẽ Santa Claus sẽ mang tới cho em cháu thật đấy.

Cậu bé lắc đầu:

– Không, Santa sẽ không thể tới được nơi mà em cháu hiện nay đang ở. Cháu phải đưa con búp bê cho mẹ cháu để mẹ mang tới cho em.

Tôi hỏi:

– Vậy em cháu ở đâu?

Cậu bé nhìn tôi bằng cặp mắt thê thảm nhất, trả lời:

– Em cháu đã về với Chúa. Bố cháu nói rằng mẹ cháu cũng sắp phải đi với em rồi.

Tim tôi thót lại. Cậu bé nói tiếp:

– Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là mẹ đừng đi vội. Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là hãy chờ cháu từ tiệm trở về.

Rồi cậu bé hỏi tôi có muốn coi hình của cậu ta không. Tôi nói rằng tôi rất muốn. Cậu ta lôi ra mấy tấm hình mà cậu mới chụp ở ngoài cửa tiệm, nói:

– Cháu muốn mẹ cháu đem theo mấy tấm hình này để mẹ không bao giờ quên cháu. Cháu yêu mẹ cháu lắm. Cháu ước gì mẹ cháu sẽ không phải rời bỏ cháu. Nhưng bố cháu nói rằng mẹ cháu cần phải đi với em cháu.

Tới đây, cậu bé lặng lẽ cúi gục đầu xuống. Trong khi cậu ấy không nhìn thấy, tôi thò tay vào ví lôi ra một nắm tiền giấy cuộn trong lòng bàn tay rồi đề nghị:

– Này, hay là chúng mình đếm lại tiền của cháu một lần nữa coi sao?

Cậu bé có vẻ phấn khởi:

– Dạ, cháu biết chắc là phải đủ mà.

Thế là tôi nhẹ nhàng tuồn nắm tiền trong lòng bàn tay tôi nhập vào với tiền của cậu bé và bắt đầu đếm. Dĩ nhiên là bây giờ thì số tiền dư sức để mua con búp bê. Cậu bé nhìn lên cao, cất tiếng nhẹ nhàng:

– Xin cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền mua búp bê.

Rồi cậu nói với tôi:

– Cháu vừa mới cầu xin Chúa cho cháu đủ tiền mua con búp bê này để mẹ cháu có thể đem theo cho em cháu. Chúa đã nghe thấy lời cầu xin của cháu. Cháu đã muốn xin đủ tiền để mua được hoa hồng bạch cho mẹ cháu nữa mà cháu lại không hỏi. Vậy mà Chúa lại cũng cho cháu đủ tiền để mua được cả búp bê cho em cháu và hoa hồng cho mẹ cháu nè. Mẹ cháu thích hoa hồng bạch lắm, cô à.

Người cô của cậu ta đã trở lại. Tôi cũng đẩy xe đồ của tôi đi luôn. Đầu óc tôi cứ bận bịu với hình ảnh cậu bé trong khi tôi tiếp tục mua sắm, nhưng tinh thần tôi bây giờ không giống như trước khi tôi gặp cậu ta. Tôi bỗng nhớ tới một câu chuyện đăng trên báo mấy ngày trước đây, câu chuyện về một người say rượu lái xe, tông vào xe kia làm cho một cô bé chết ngay và mẹ cô ta bị thương nặng. Gia đình người bị nạn đang bối rối trước quyết định có nên tháo bộ máy trợ sinh ra khỏi cơ thể bà ta chăng. Nhưng dĩ nhiên là cậu bé này chẳng liên quan gì đến câu chuyện đó cả, tôi tự nhủ thế.

Hai ngày sau tôi đọc báo thì biết được rằng gia đình người đàn bà trong tai nạn xe hơi đã quyết định tháo máy trợ sinh và bà ta đã chết. Tôi vẫn chưa quên câu chuyện cậu bé và cứ thắc mắc không biết hai chuyện có liên quan gì đến nhau không.

Chiều hôm đó, không nhịn được nữa, tôi đi mua mấy bông hoa hồng trắng và đến nơi quàn xác người đàn bà.

Thì ô kìa, nằm lặng lẽ trong bộ áo cuối cùng của cuộc đời, người đàn bà trẻ ôm trong tay một bông hồng bạch cạnh con búp bê xinh xắn và trên ngực là tấm hình cậu bé chụp trước cửa tiệm bách hóa.

Tôi ra về với đôi mắt đẫm lệ, cuộc đời tôi thay đổi từ lúc đó. Tình yêu mà cậu bé thơ ngây dành cho em nhỏ và mẹ cậu ta mới thiêng liêng sâu sắc làm sao! Một tình yêu bao la như thế, đằm thắm như thế, mà chỉ trong thoáng chốc, một người say rượu, lái xe trong tình trạng tâm trí không sáng suốt, đã xé tan nát trái tim cậu bé ra thành từng mảnh.

Người dịch: Vy Khanh (ĐPK)

***

The Doll and a White Rose

I hurried into the local department store to grab some last minute Christmas gifts. I looked at all the people and grumbled to myself. I would be in here forever and I just had so much to do.Christmas was beginning to become such a drag. I kinda wished that I could just sleep through Christmas. But I hurried the best I could, through all the people to the toy department. Once again I kind of mumbled to myself at the prices of all these toys. And wondered if the grandkids would even play with them.

I found myself in the doll aisle. Out of the corner of my eye I saw a little boy about 5 holding a lovely doll. He kept touching her hair and he held her so gently. I could not seem to help myself. I just kept looking over at the little boy and wondered who the doll was for. I watched him turn to a woman and he called his aunt by name and said, “Are you sure I don’t have enough money?” She replied a bit impatiently, “You know that you don’t have enough money for it.” The aunt told the little boy not to go anywhere that she had to go get some other things and would be back in a few minutes. And then she left the aisle. The boy continued to hold the doll.

After a bit I ask the boy who the doll was for. He said, “It’s the doll my sister wanted so badly for Christmas. She just knew that Santa would bring it.” I told him that maybe Santa was going to bring it. He said “No, Santa can’t go where my sister is, I have to give the doll to my Momma to take to her. I asked him where his sister was. He looked at me with the saddest eyes and said “She has gone to be with Jesus. My Daddy says that Momma is going to have to go to be with her.” My heart nearly stopped beating. Then the boy looked at me again and said, “I told my Daddy to tell Momma not to go yet. I told him to tell her to wait till I got back from the store.” Then he ask me if I wanted to see his picture. I told him I would love to. He pulled out some pictures he’d had taken at the front of the store. He said “I want my Momma to take this with her so she don’t ever forget me. I love my Momma so very much and I wish she did not have to leave me. But Daddy says she needs to be with my sister.” I saw that the little boy had lowered his head and had grown so very quiet.

While he was not looking I reached into my purse and pulled out a hand full of bills. I ask the little boy, “Shall we count that money one more time?” He grew excited and said , “Yes, I just know it has to be enough” So I slipped my money in with his and we began to count it. And of course it was plenty for the doll. He softly said, “Thank you Jesus, for giving me enough money.” Then the boy said “I just asked Jesus to give me enough money to buy this doll so Momma can take it with her to give to my sister. And he heard my prayer. I wanted to ask him for enough to buy my Momma a white rose, but I didn’t, but he gave me enough to buy the doll and a rose for my Momma. She loves white roses so very, very much”

In a few minutes the aunt came back and I wheeled my cart away. I could not keep from thinking about the little boy as I finished my shopping in a totally different spirit than when I had started. And I kept remembering a story I had seen in the newspaper several days earlier about a drunk driver hitting a car and killing a little girl and the Mother was in serious condition. The family was deciding on rather to remove the life support. Now surely this little boy did not belong with that story.

Two days later I read in the paper where the family had disconnected the life support and the young woman had died. I could not forget the little boy and just kept wondering if the two were somehow connected. Later that day, I could not help myself. I went out and bought some white roses and took them to the funeral home where the young woman was.

And there she was holding a lovely white rose, the beautiful doll, and the picture of the little boy in the store.

I left there in tears, my life changed forever. The love that little boy had for his little sister and his mother was overwhelming. And in a split second a drunk driver had ripped the life of that little boy to pieces.

Written by V.A.Bailey
http://www.geocities.com/SouthBeach/Strand/5225/madd.html

Một Chuyến Đi

Chiếc xe Jeep chồm lên rồi ngừng lại. Ân nhẩy xuống, tay xách va li của Hạnh:

– Tới rồi chị ạ. Đợi tôi một chút tôi trình giấy nhé.

Rồi Ân buông cái va li, đi vùn vụt. Hạnh leo xuống đất. Trời mới hơi hừng sáng. Sương phủ mờ mờ. Xa xa, từng dãy phi cơ nằm im lìm. Cách chỗ nàng đứng chừng hai chục thước là hai chiếc máy bay lớn mầu trắng bạc, thấp thoáng bóng người qua lại. Văng vẳng bên tai Hạnh có tiếng ồn ào, tiếng gọi nhau ơi ới. Một bà mẹ dắt đứa con đứng bên cạnh cửa máy bay cứ vẫy mãi ông chồng đứng dưới đất. Cạnh đó là một cặp vợ chồng coi bộ như mới cưới. Cô vợ trẻ đưa khăn lên lau nước mắt hoài. Còn anh chồng thì cứ nắm lấy bàn tay vợ mà vuốt. Chắc là anh chàng dỗ dành. Bất giác, Hạnh thở dài. Nàng tưởng tượng ra cái anh chàng ấy trong tương lai, sẽ sống trong một căn nhà chật hẹp, với một bầy con nghịch ngợm bẩn thỉu, anh chàng sẽ cau có, hết cả sự dịu dàng âu yếm như lúc này. Hạnh thấy chán nản cùng cực. Nàng chỉ muốn chóng được lên máy bay, chóng ra tới Huế.

Nàng tưởng tượng tới lúc nằm vào giường chị Dung, trong lòng chị mà nói, mà than thở cho vơi nỗi buồn bực. Nàng sẽ ở lại chơi với chị mãi cho tới bao giờ Khánh đi tìm nàng. Nếu Khánh không tìm, nàng sẽ đi luôn. Nàng chán quá rồi. Chán đời sống buồn tẻ, ngày nào cũng như ngày nào. Chán bộ mặt khó đăm đăm của Khánh. Chán sự cau có gắt gỏng. Nàng muốn đạp đổ tất cả. Tình yêu là như thế sao. Là sự nhàm chán, bình thản đến thế hay sao. Loan muốn đi thật mau, thật mau, để được nằm vào lòng chị cho vơi niềm u uất.

Nàng đã cầy cục cả ngày hôm qua để mua vé máy bay mà không được. Chiến tranh làm đường bộ trở nên gần như vô dụng. Sự di chuyển trông cả vào đường hàng không. Mua vé phải chen chúc như đi lĩnh chẩn. Hạnh đã tìm bao nhiêu người quen nhờ mua hộ mà đành chịu. Sau cùng may gặp Ân, chồng một người bạn cũ, làm phi công. Ân sốt sắng đề nghị sẽ xin cho Hạnh đi bằng máy bay quân sự.

Với Hạnh bây giờ thì tất cả phương tiện nào đưa nàng tới Huế đều tốt. Nàng thèm được nép vào lòng chị, nàng cần được bàn tay xinh xắn gầy gò có nốt ruồi nơi ngón cái của chị vuốt vào mái tóc. Nàng nhắm nghiền mắt lại cho hai hàng nước mắt lăn xuống. Sương lạnh thấm vào người Hạnh. Nàng rùng mình. Có tiếng Ân bên cạnh làm Hạnh mở choàng mắt. Ân chỉ vào cái máy bay gần nhất có người lên xuống tấp nập và nói:

– Tôi vừa cố dàn xếp cho chị đi cái này mà không thể được. Máy bay chở nặng rồi. Thôi chị đành đi chuyến sau vậy.

Hạnh hỏi :

– Chuyến sau thì bao giờ khởi hành hở anh ?

Ân chỉ tay qua phía bên kia trả lời ngập ngừng:

– Khởi hành thì cũng ngay bây giờ đây. Nhưng chỉ hiềm vì …

Vừa nói, Ân vừa xách va li lên. Hạnh bỡ ngỡ bước theo. Bỗng nhiên, nàng đứng sững lại. Trước mặt nàng là ba chiếc quan tài phủ cờ chung quanh có mấy người lính ôm súng ngồi la liệt. Ân dừng lại nhìn vào mắt nàng :

– Đó, tôi cũng hơi ngại chị sợ. Vậy nếu chị không muốn thì để tôi xin lại giấy phép cho chị đi ngày mai.

Thoáng nghĩ lại nỗi bực bội âm ỷ từ mấy tháng nay, nhớ lại nét mặt buồn tẻ của Khánh, Hạnh vội vã:

– Thôi, anh cho tôi đi ngay chuyến này.

Vừa lúc đó, một xe nhà binh chở tới mấy đứa trẻ con và bốn người đàn bà. Tất cả đều chít khăn tang trắng và có người mặc áo trắng nữa. Xe vừa ngừng thì một người đàn bà đã lao xuống đâm bổ vào chiếc quan tài nằm giữa gào lên :

– Anh ơi ! Anh nằm đây cả đêm có lạnh không ? Nói đi anh, trả lời em đi. Nói với em một lời đi…

Tiếng khóc khàn khàn như đặc lại ai oán. Hạnh sững sờ cả người. Mấy đứa trẻ trên xe đã tụt cả xuống đất, đứng sau lưng bà ta. Bây giờ thì bà ta ôm lấy quan tài mà khóc. Mấy đứa bé cũng bật lên khóc.

Mé bên kia một người đàn bà ngồi ôm mặt bên chiếc quan tài ngoài cùng. Đầu bà ta gục xuống. Mái tóc loà xòa phủ lên lá cờ ngay cạnh chỗ tấm ảnh một người đàn ông mặc quân phục. Lẫn trong tiếng khóc, Hạnh nghe có tiếng “con ơi”. Tiếng khóc nghe não nuột như từ chốn xa xăm nào vọng về. Hạnh chợt nghĩ đến con mình, bé Nga. Con bé Nga với đôi má xệ, với cái bụng phệ, với bàn chân thô. Không biết lúc này nó đã dậy chưa. Chị vú có có pha sữa cho nó không? Nó có đái dầm ra quần không? Hạnh muốn quay về với nó. Nhưng nghĩ đến chồng, nàng lại bực. Thật ra thì nàng cũng không có cớ gì lớn lao để giận chồng. Chỉ là sự bực bội chán nản mà thôi. Nàng thèm được thay đổi không khí. Thèm được thấy lại mình xưa kia. Nàng nôn nóng nhìn về phía chiếc máy bay.

Những anh lính hồi nãy ngồi la liệt dưới đất đã đứng thành hai hàng dọc nối liền với cửa máy bay. Tất cả đều bồng súng chỉnh tề. Một tiếng hô vang, Hạnh thấy sáu người lính khác cúi xuống từ từ nâng chiếc áo quan ngoài cùng lên vai. Bây giờ Hạnh mới trông thấy người ngồi khóc là một bà cụ già, mái tóc đã bạc. Bà cụ ôm chặt bát hương trong tay, ôm trong đôi cánh tay mà ngày xưa đã dùng để ôm người con khi còn nhỏ. Hạnh nhắm mắt lại. Hình ảnh con bé Nga lại chập chờn ẩn hiện. Hạnh như còn thấy nó nhe răng cười, tay nó vẫy vẫy nàng mỗi khi nàng đi đâu về. Có tiếng người đàn bà thét :

– Ới anh ơi ! Nay anh về quê cha đất tổ. Ngày anh đi, anh hẹn nghỉ phép sẽ về sửa lại cái mái nhà dột, anh nói dối em, anh bỏ em lại, anh đi một mình…

Chiếc áo quan thứ nhì đang từ từ tiến vào lòng máy bay. Dưới sân chỉ còn lại một chiếc và người đàn bà gục đầu suốt từ lúc nãy vẫn như ngồi bất động.

Ánh nắng ban mai chiếu le lói vào thân máy bay. Hạnh nghĩ đến Khánh lúc này chắc đang sửa soạn đi làm. Hình ảnh Khánh hiện lên với nét mặt buồn buồn lúc nàng ra xe hẹn một tháng mới trở về. Khánh nghĩ gì? Hạnh không muốn tưởng tượng lan man thêm nữa.

Trên sân đã vắng. Ân xách chiếc va li dùm Hạnh tiến về phía máy bay. Rồi chàng đỡ Hạnh bước vào. Nàng đưa mắt nhìn. Ngay dưới về phía đuôi, mấy người lính ngồi ngổn ngang, súng dựa vào mấy chiếc ba lô. Có người đang tháo giầy bốt, có người đang moi móc tìm thuốc lá. Trên hai hàng ghế sát thành máy bay từ mé giữa trở xuống, người ngồi chật ních. Nhưng từ giữa máy bay trở về phía đầu chỉ có thưa thớt mấy người mặc đồ tang mà thôi. Giữa hai hàng ghế là ba chiếc quan tài nằm nối đuôi nhau. Rồi tới cái rương bằng thiếc mầu xanh để sát chiếc áo quan thứ ba, trên mặt cũng cắm mấy nén hương.

Hạnh đứng ngập ngừng. Chợt nàng có cảm tưởng như có người nhìn mình. Hạnh ngẩng lên vừa gặp ánh mắt người đàn bà xõa tóc hồi nãy. Ánh mắt thản nhiên lạnh lùng. Bụng bà ta lớn vượt mặt. Nàng cúi xuống xách va-li tiến lại phía bà ta. Cửa phi cơ đóng lại. Máy nổ ầm ỳ. Người đàn bà có bầu sửa lại cái bát hương trên mặt áo quan cho ngay ngắn. Đầu kia, sát phòng máy, bà cụ già giở tràng hạt lẩm bẩm tụng kinh.

Máy bay bò đi từ từ rồi dừng lại, rồi rú lên, phóng nhanh. Thảm cỏ xanh lao vun vút giật lùi. Ruột gan Hạnh nhẹ bỗng. Trước mặt Hạnh, ba dứa trẻ ôm chầm lấy mẹ. Đứa giữa là con gái cỡ năm tuổi, tai đeo đôi khuyên vàng, tóc nó uốn quăn tít giống mẹ. Mẹ nó mặc chiếc áo dài trắng. Tay bà ta đánh móng đỏ nhưng đã tróc loang lổ verni với những ngón thô kệch nổi gân. Trên miệng chiếc giỏ bên cạnh bà, Hạnh còn thấy một chiếc guốc cao gót mầu xanh lá cây.

Phi cơ đang bay lướt trong từng đợt mây. Hơi lạnh tỏa ra làm Hạnh rùng mình. Nàng mở va-li lấy chiếc khăn quàng. Thoang thoảng đâu đây có mùi ung ủng. Ngồi cạnh Hạnh về mé ngoài là một bà trạc bốn mươi. Người bà mập mạp và đẹp. Bà móc túi lấy lọ dầu ra bôi rồi trao cho Hạnh:

– Cô xoa đi. Quái, nghe như có mùi sầu riêng ấy. Cái giống này cứ lúc nào máy bay lên cao là tỏa mùi ra, úi dà, tệ lắm. Tôi đã bị một lần rồi. Của cô đấy hả?

Hạnh lắc đầu. Nàng cảm thấy choáng váng. Bà kia vội dí lọ dầu vào mũi Hạnh. Mắt Hạnh hoa lên. Trước mặt Hạnh, cái áo hoa của bà nhảy múa nhòe nhoẹt. Đôi môi mọng đỏ của bà như cười. Hơi dầu làm Hạnh tỉnh dần. Nàng cảm ơn bà bạn tốt bụng. Bà ta chuyển chai dầu cho Hạnh bảo đưa cho bà có bầu. Chiếc máy bay lắc mạnh. Chiếc bát hương trên quan tài giữa chao đi. Bà có ba đứa con chụp lấy ôm vào lòng rồi oà lên khóc:

– Ối anh ơi ! Anh bảo anh nghỉ phép anh về với em. Anh bảo chúng mình sẽ về quê ngoại. Anh bảo em uốn tóc. Anh bảo em may áo giống bà thiếu úy San. Nay anh đi đâu bỏ em bơ vơ thế này.

Mọi người nhìn về phía bà. Tiếng bà gào át cả tiếng máy bay:

– Anh ơi ! Anh mua guốc cho em làm gì. Em có thích uốn tóc hồi nào đâu. Bây giờ anh ở đâu…

Mấy anh lính choàng dậy càu nhàu vu vơ. Mé đầu máy bay bà cụ già tụng kinh lớn hơn. Hạnh nghe loáng thoáng… “vạn kiếp nan tao ngộ… “. Khuôn mặt bà cụ nhăn nheo. Nước mắt bà cụ lăn chậm chạp trên hai gò má đen sạm. Bà cụ tụng kinh không ngừng. Ba đứa bé thì ngơ ngác nhìn tất cả mọi nơi, từ trần xuống sàn máy bay. Thỉnh thoảng thằng lớn nhất lại nhìn ra cửa. Hạnh đoán có lẽ chúng đi máy bay lần đầu. Con bé giữa mặc áo đầm nylon. Bà mẹ cúi xuống lục ở cái giỏ lấy ra hai quả xoài đặt lên lá cờ phủ áo quan rồi lại kể lể:

– Hôm anh đi em đã bảo anh ăn xoài. Anh kêu đau bụng không ăn để nhường cho con. Bây giờ anh ăn đi anh ơi ! Anh thích ăn xoài mà.

Bỗng nhiên, bà có bầu ngồi canh Hạnh gục xuống. Hạnh vội đỡ bà ta lên. Mặt bà ta xanh xám. Bà mặc áo hoa ngồi bên trái Hạnh vội dốc lọ dầu vào đầu bà có bầu rồi phân trần:

– Đấy cái hơi độc thế đấy. Phải đổ dầu vào kẻo nguy.

Lúc này thì hầu như cả mọi người đều biết là không phải hơi sầu riêng. Nhưng không ai xác nhận rõ là mùi gì cả. Máy bay lượn làm chiếc áo quan ngoài cùng hơi nghiêng về phía Hạnh. Nàng hoảng hốt rút chân lên, e dè nhìn vào những vết loang lổ trên lá cờ.

Mé sau, cái rương xanh xô vào phía mấy người lính. Một anh đẩy cái rương lại chỗ cũ rồi chép miệng:

– Cái ông này thì còn được vài ký thịt, quá lắm là thêm bàn tay thôi chứ gì mà cũng chạy tới chạy lui.

Người bên cạnh cãi :

– Bậy nào, đâu đến nỗi.

Người thứ nhất trợn mắt:

– Cậu thì biết cái cóc gì. Hồi nãy, chính tớ rinh lên mà. Nhẹ hểu à.

Hạnh vỗ vỗ lưng bà bụng bầu. Bà ta đã tỉnh tỉnh. Đầu bà ngả vào vai Hạnh. Hạnh gục đầu vào cửa sổ nhìn xuống. Dưới kia là dòng sông uốn khúc, nhỏ như trong mô hình triển lãm với những thửa ruộng như ô bàn cờ. Những mái nhà nhỏ bé làm Hạnh liên tưởng đến những mái nhà, mái chùa mà dạo bé Hạnh vẫn loay hoay ngắm nghía ở trong bể non bộ của ông ngoại. Tất cả lướt qua phía dưới, thanh bình và êm đềm quá. Nhưng những mái nhà hiền lành kia liệu có bao bọc những cuộc đời êm đềm hạnh phúc, hay cũng đầy dẫy những trái tim tan nát như những gia đình này. Bất giác Hạnh gợn lên niềm nhớ thương chồng con. Nàng cũng có một mái nhà mà sao nàng lại bỏ đi. Đời sống bình thản và hiền lành. Nó không có gì ầm ỹ đặc sắc. Nhưng khi sự ầm ỹ đặc sắc xẩy đến, như sự chết, sự chia ly, thì trái tim đã tan nát rồi.

Máy bay đi trong đám mây. Hạnh nhìn thấy như từng quả núi nhỏ bằng mây trắng vây phủ quanh nàng. Nàng nhớ lại thuở bé cứ ước ao sau làm nữ hiệp để đằng vân đi cứu nhân độ thế. Nàng ngậm ngùi nghĩ đến chồng. Nàng lại tự trách mình sao hay đòi hỏi. Giá nàng biết tự quên mình thì có lẽ Khánh sung sướng hơn nhiều. Nàng chợt nhớ lại vẻ ngượng nghịu của Khánh lúc nàng bóng gió so sánh cảnh nghèo nàn của nàng với sự giầu sang của các bạn. Nàng thấy mình quá tàn nhẫn….

Vai Hạnh nhẹ bỗng hẳn đi. Bà có bầu đã ngồi dậy. Hạnh liếc bà ta. Mắt bà cứ nhìn đăm đăm về phía đầu quan tài. Có tiếng bà lẩm bẩm rất bình thản:

– Tôi đi tìm nhà tôi từ ngoài mặt trận. Tôi đi tìm khắp các nhà thương, nhà xác. Tôi lật từng cái xác để tìm nhà tôi đã mười hai ngày. Lật từng cái xác…

Mắt bà như bất động. Mặt bà cũng bất động, chỉ có miệng bà mấp máy :

– Từng cái xác, từng cái xác đã thối, đã xình…

Hạnh bỗng rợn cả người. Nàng kinh hoàng nhìn bà ta. Bà ta gầy gò xanh xao là thế, bụng chửa vượt mặt, lại yếu đuối như thế, sao bà có thể làm được công việc cực nhọc nhường ấy. Đôi mắt bà nhìn vào phía quan tài không chớp, vẻ quê mùa của bà làm cho Hạnh khó tìm thấy cái sức mạnh nào đã đẩy bà đi mười hai ngày trời để mà lật từng cái xác tìm chồng.

Phi cơ chao đi. Một quả xoài rơi xuống sàn, thằng bé út chộp lấy. Bên này, bà có bầu vội đỡ lấy bát hương vào lòng thì thầm:

– Anh ơi ! Em còn làm gì cho anh, còn làm gì cho anh được nữa, anh ơi!

Hạnh xiết chặt tay bà. Bà mới đáng thương chứ không phải người nằm trong kia. Nằm đấy là yên nghỉ rồi. Vậy mà bà không nghĩ tới mình, chỉ nghĩ tới sự gì còn có thể làm được cho chồng. Chao ôi! Lòng người đàn bà này sao mà rộng rãi và đầy tình thương yêu đến thế.

Bỗng bà ngồi thẳng dậy đăm đăm nhìn áo quan. Hạnh tưởng như xuyên qua lớp gỗ, đôi mắt người chồng đang mở ra tha thiết nhìn vợ. Đôi mắt đầy yêu thương trìu mến. Đôi mắt của Khánh vẫn nhìn nàng. Hạnh phúc ở bên cạnh nàng như đôi tay đối với người lành mạnh. Đối với người lành mạnh, sự hiện hữu của đôi tay không có nghĩa gì cả. Nhưng nếu có một tai nạn xẩy đến thì sự mất mát đôi tay mới thật sự là một tai họa hãi hùng và đã quá trễ rồi.

Hạnh nhìn suốt một lượt từ bà cụ già tới bốn mẹ con, những người lính, lá cờ, tất cả đều mơ hồ nhòe nhọet một mầu mờ nhạt, hai hàng nườc mắt lăn dài. Nàng quay về phía cửa sổ máy bay nhìn xuống, dưới kia là Ngũ Hành Sơn xa lạ. Hạnh muốn chiếc máy bay quay trở lại. Nàng thấy tiếc những thời giờ phí phạm đang trôi. Nàng muốn chắt chiu níu giữ thời khắc của tình yêu như người biển lận xót những đồng tiền phung phí.

Nàng thiết tha muốn trở về để được xà ngay vào lòng Khánh. Và Khánh sẽ hôn lên tóc nàng. Rồi nàng sẽ ôm con đi tắm. Con bé Nga bé bỏng của nàng, với hai cái má xệ xệ, cái bụng phệ phệ và bàn chân mũm mĩm thô kệch.

Mơ hồ, Hạnh thoáng thấy chị Dung mỉm cười trìu mến.

Đỗ Phương Khanh
(Trong tập truyện ngắn Hương Thu)

Cảnh đẹp người vui trên đất Nhật


Thuở bé tôi thường có những giấc mơ lạ. Tôi thấy mình lang thang trong những khu vườn sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp và đầy hoa lá xanh tươi. Trong mơ, tôi có niềm an lạc nào đó mà nếu bất thình lình tỉnh dậy, tôi tiếc lắm. Thậm chí có lúc tôi lại muốn đi ngủ để gặp lại những giấc mơ đẹp như thế. Sau này, khi đọc sách thấy những khu vườn Nhật gọn gàng, ngăn nắp, mầu sắc hài hòa, tôi lại nhớ những giấc mơ xưa. Có lần tôi kể lại cho một ông bác tinh thông Phật pháp, ông bảo:

– Có lẽ trong những kiếp quá khứ, cháu đã từng sống ở bên Nhật nên hình ảnh còn đọng lại trong tàng thức, là cái kho chứa tâm linh của cháu, vì thế trong mơ nó hiện lên đấy.

Càng thêm tuổi thì những giấc mơ có vườn hoa đẹp càng ít dần. Nhưng tôi vẫn thích những bức tranh có cô gái Nhật mặc kimono bới tóc thật đẹp, hoặc chàng hiệp sĩ Nhật mắt xếch, tay lăm lăm thanh kiếm.

Tuổi thơ của tôi chìm đắm trong khói lửa mịt mù của những năm dài kháng chiến chống Pháp. Gia đình tôi tản cư lưu lạc vào những vùng rừng sâu núi thẳm, người ít cây nhiều. Tôi lớn lên bên những dòng suối trong, những bóng nắng chiếu xuyên qua khe lá, ánh chiều vàng ngả xuống núi, tiếng lá cây cây xào xạc, tiếng chim chóc, khỉ, dơi, đủ loại động, thực vật và trong những giấc mơ đẹp đôi khi chợt tỉnh giấc vì tiếng rống của hùm beo đi tìm mồi.

Quen sống với thiên nhiên như thế nên sau này, khi đã trưởng thành, đã có cuộc đời ổn định, tôi thường mơ ước có dịp được đi du lịch để thưởng thức cảnh trí êm đềm với hoa thơm cỏ lạ.

Tôi cũng đã được tới năm bảy quốc gia, tuy vậy, trong lòng vẫn muốn được đi thêm, thấy thêm cho “mở rộng tầm mắt”. Nhưng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ảm đạm, quỹ hưu trí 401K tự nhiên đã biến mất một phần ba, tôi cũng tự nhủ hãy tạm hoãn mơ ước, chờ lúc kinh tế phát triển trở lại.

Nhưng chuyện đời thường không theo dự tính của mình, mà xuất hiện rất tình cờ, nhà Phật có câu “vô thường” và câu “đủ nhân duyên” thật hay, tôi kinh nghiệm nhiều chuyện như thế đã xảy ra trong đời, như lần này vậy.

oOo

Một hôm tôi tới hãng du lịch Five Oceans để hỏi giá vé cho người bạn muốn đi hành hương, gặp cô Tanya Diệu Đạt, một Tour Director của hãng này, tính tình vui vẻ, nhanh nhẩu, tận tâm, mà tôi đã cảm nhận qua vài lần đi trong đoàn của cô. Nhìn thấy tôi, cô vừa cười vừa hỏi đùa:

– Bác lúc này trông khỏe mạnh đẹp lão quá, cháu có Tour 2 tháng nữa đi Trung Quốc, bác muốn gia nhập cho vui không?

Tôi cũng đùa lại:

– Đang recession phải keo kiệt, Trung Quốc đi rồi, giá là đi Nhật thì tôi liều mạng thôi.

Nào ngờ cô mau mắn:

– Cháu cũng có Tour đi Nhật nè, 10 ngày nữa thôi, bác đi thật không?

Tự nhiên tôi thấy lòng náo nức, nhưng chưa trả lời mà chỉ cười trừ.

Về nhà, tôi đi tìm passport. Thì ra đã gần hết hạn. Tôi phone lại văn phòng nói cho Diệu Đạt biết là passport chỉ còn giá trị có 3 tháng nữa thôi, vậy thì không được rồi, phải còn thời gian là 6 tháng tính đến ngày trở về cơ mà. Tôi thất vọng hỏi:

– Làm sao bây giờ. Nói đi Nhật làm bác nghĩ tới các Zen Masters tác giả các sách mà bác đã từng được đọc, nhờ thế được hiểu thêm về cốt tủy của đạo Phật. Nay bác muốn đến sờ tay vào đất Nhật để cảm tạ các ngài. Bây giờ passport hết hạn, không còn thời gian để làm kịp, không đi được đâm ra buồn. Bác nhỡ tầu rồi.

Tanya Diệu Đạt trấn an ngay:

– Bác đừng buồn, bác đã muốn đi thì cháu sẽ giúp bác. Để cháu lấy hẹn rồi sẽ tới chở bác lên Los làm passport khẩn cấp.

Qua chuyến đi Hành Hương Trung Quốc mấy năm trước, tôi đã biết sự tận tâm của Tanya, nên mừng lắm. Đêm đó tôi vào giấc ngủ, lòng náo nức với phong cảnh Nhật Bản mà tôi tưởng tượng trong đầu.

Diệu Đạt giữ đúng lời hứa, sáng hôm sau mới 7:30AM, cô đã gõ cửa nhà tôi. Hóa ra cô đã lấy được hẹn gặp nhân viên sở Di Trú lúc 9 giờ nên phải dậy từ 4 giờ sáng để xong thủ tục cần thiết và lái 80 miles từ mãi tuốt gần San Diego đến nhà tôi tại Orange County vào giờ này. Từ nhà tôi lên Los Angeles nếu không kẹt xe thì chỉ 1giờ 30 phút, nhưng nếu vào giờ cao điểm, mọi người đổ ra đường đi làm thì có thế tốn cả 2, 3 tiếng đồng hồ như không. Và như thế chúng tôi sẽ lỡ hẹn với sở Di Trú.

Cho nên chúng tôi vội vã chạy ra xe, may mà tới Los vừa kịp giờ. Nhờ có sự tận tâm giúp đỡ của Diệu Đạt, sau hai buổi xếp hàng làm thủ tục và xếp hàng để nhận giấy, tôi đã cầm được passport mới trong tay.

Nay thì hình ảnh Nhật Bản không còn xa xôi nữa. Thời gian trôi qua thật lẹ, cuối cùng, tôi đã đặt chân lên đất Nhật.

oOo

Cảm giác đầu tiên của tôi khi bước vào không gian Nhật Bản là một cảnh tượng sạch sẽ, trong trẻo với những lời trao đổi rất nhẹ nhàng. Nhân viên Hải Quan coi giấy tờ, yêu cầu tôi lăn tay với lời nói êm ả, gương mặt ôn hòa như bạn bè trò chuyện, khác hẳn gương mặt khó đăm đăm của nhân viên ở đâu đó khi tôi về thăm quê hương.

Tôi bỗng thấy dường như tinh thần Thiền tỏa sáng từ ngay nơi những người dân thường. Trong một tuần lễ lưu ngụ tại Nhật, cảm giác đó của tôi càng thêm sâu sắc. Tôi thấy họ rất tự trọng. Từ khi tới cho đến khi trở lại Mỹ, tôi không hề thấy một người hành khất nào, không hề có cảnh người ta lôi kéo mời chào mua hàng và điểm đặc biệt là họ không nhận tiền tip.

Tôi cũng có một kỷ niệm đẹp trong việc “tiền tip” này. Số là, trong một dịp phải leo dốc cao, tôi dùng phương tiện xe kéo. Đây cũng là một điều thú vị mà tôi không ngờ. Có lẽ nước Nhật nhiều danh lam thắng cảnh tọa lạc trên cao nên họ có hãng xe kéo mà chi nhánh gần như khắp nước. Nhân viên kéo xe là những thanh niên tinh thông võ nghệ, rất mạnh khỏe, nhanh nhẹn. Họ lĩnh lương tháng như công tư chức chứ không giống xe xích lô tại Việt Nam, nơi mà ngày nào không có khách ngồi xe là đói.

Dốc khá cao, thấy cậu thanh niên khòm lưng vất vả quá, tôi trạnh nghĩ tới đứa con trai út, vào những ngày khó khăn khi miền Nam mới xụp đổ, nó cũng vất vả ngược xuôi chở đồ, vác giấy, thồ rơm kiếm thêm tiền giúp bố mẹ, cũng cực nhọc như cậu này. Lòng dưng dưng, tôi móc túi lấy ra tờ giấy bạc dúi vào tay cậu. Cậu ta quyết liệt chối từ, cố gắng giải thích một cách khó khăn bằng tiếng Anh cho tôi hiểu rằng cậu làm việc để kiếm tiền chứ không nhận tiền ”được cho vì lòng trắc ẩn”. Tôi cũng phải dùng thứ tiếng Anh nghèo nàn của tôi để giải thích rằng “đây không phải là tiền tip, mà là gift tôi tặng cậu vì nhìn cậu tôi nhớ tới con trai tôi”.

Thấy cậu ta vẫn khăng khăng không nhận, người bạn đồng nghiệp ghếch xe ngay bên cạnh cậu nãy giờ đứng nhìn, bỗng cúi xuống ghé vào tai cậu nói nhỏ một tràng tiếng Nhật, tôi thấy cậu ta gật gật đầu rồi cười mà cầm lấy tờ giấy bạc “gift”. Tôi đoán có lẽ người bạn đã nói:

– Bà cụ này đi xa nhớ con, anh cầm lấy cho bà vui.

Phải vậy không nhỉ? Thế thì cậu lại nhận tiền vì lòng trắc ẩn đối với tôi rồi.

Chuyến đi Nhật này chỉ có một tuần lễ mà làm cho nội tâm tôi phong phú biết mấy. Tại phi trường Tokyo International Airport, chúng tôi gặp cô hướng dẫn viên địa phương. Sau này, qua bảy ngày đi với cô, lúc gần chia tay, nhân lúc chỉ có hai người, tôi thì thầm bên tai cô mấy câu “Người đi qua đời tôi, Không nhớ gì sao người…”. Cô tròn mắt:

– Bà hát gì vậy, dịch cho tôi hiểu với.

Tôi bèn dịch ra Anh ngữ, dịch xong, tôi liếc qua thấy mắt cô ướt ướt. Sony Tsai, tôi nhớ cô quá, bẩy ngày trời, em luôn cặp chặt cánh tay tôi vì sợ rằng tôi, một bà già ngoại quốc, đi đứng loạng quạng sẽ ngã, hoặc sẽ lạc vào rừng người xa lạ. Cầu mong em bớt hút thuốc lá để lần sau qua Nhật, tôi còn có dịp gặp em.

oOo

Đêm đầu tiên tại khách sạn, tôi ngơ ngác trước những chỉ dẫn cách sử dụng đồ điện tử toàn bằng tiếng Nhật. Có lẽ người Nhật đề cao tự ái dân tộc quá lố nên không dùng ngoại ngữ. Nhưng Anh Ngữ đã thành tiếng quốc tế, chẳng nên tị hiềm mà không dùng, gây phiền phức cho khách mà cũng mất thì giờ của nhân viên. May mà họ đáp ứng rất nhanh, tôi vừa điện thoại xuống văn phòng yêu cầu cử nhân viên chỉ dẫn thì chỉ mới khoảng hơn một phút đã nghe tiếng gõ cửa rất nhẹ rồi một cậu thanh niên xuất hiện cúi chào và nói nhỏ bằng tiếng Anh xin được giúp đỡ điều tôi cần.

Nhìn phong thái ôn hòa, trầm tĩnh của cậu và tiếng khép cửa nhẹ nhàng như tiếng mỏ chim gõ vào thân cây khiến tôi nhớ lời vị thiền sư căn dặn học trò:

– Ông đóng cửa nhè nhẹ thôi, trước là người chung quanh không bị giật mình, sau là những con sâu mọt trong cánh cửa không sợ chết điếng.

Ứng xử như thế quả thật đã nói lên tinh thần bình đẳng và tôn trọng muôn loài chúng sinh của nhà Phật.

Nước Nhật nhỏ bé, xinh xắn, không như Trung Quốc, nên khi di chuyển trong nội địa, chúng tôi dùng phương tiện xe hơi. Đoàn chỉ có 10 người nhưng cô trưởng đoàn yêu cầu hãng cung cấp xe 24 chỗ để chúng tôi ngồi cho thoải mái. Đi xe hơi như thế, chúng tôi thấy được rất nhiều cảnh đẹp, từ những rừng hoa mênh mông, những dòng suối uốn lượn, cảnh ánh mặt trời phản chiếu lóng lánh trên đỉnh núi Phú Sĩ, những căn nhà cổ xưa mà tôi tưởng như trong đó còn đang có những phụ nữ mặc kimono quỳ gối cởi giầy cho chồng. Tôi nói lên điều‎ này làm cho mấy bác trong xe cười lăn ra:

– Thôi đi bác, ngày nay mà mơ mộng vợ cởi giầy cho thì có mà chết, nó cởi xong tiện tay nó xách ngay giầy phang cho bể mặt.

Những người bạn đồng hành vui tính và thật là dễ mến của tôi trong những ngày tươi đẹp đó, này là bác Tịnh Trang, tôi còn nhớ hình ảnh bác lui cui lục giỏ tìm kẹo ho mỗi khi nghe tiếng khục khặc của tôi, cảm ơn bác, thật ấm lòng biết mấy, này là cô bé Ngọc Dung dễ thương ơi là dễ thương, một tay thọc túi quần một tay cầm máy thu hình cha mẹ, hình các bác trong đoàn. Gọi là “cô bé” vì cô xinh xắn đáng yêu quá mà thôi chứ dường như cô là giám đốc một hãng nào đó bên Texas thì phải. Còn mẹ cô thì, ôi, ước gì tôi có được nét hiền hậu, tươi tắn của bà!

Tôi đã từng đi vài Tours với Tanya Diệu Đạt, chưa bao giờ tôi có bất cứ phiền lòng nào. Tanya đúng là có khiếu trưởng đoàn du lịch trời sinh. Cô ấy lập chương trình những địa điểm thăm viếng, nơi ăn uống ngủ nghỉ rất chu đáo hài hòa, bảo đảm sức khỏe thành viên trong đoàn từ lúc ra đi tới khi trở về đều không hề mất sức. Nhất là về vấn đề bệnh hoạn bất thình lình xảy ra cho các vị lớn tuổi, cô ấy giải quyết một cách rất chuyên nghiệp. Phần lớn các khách sạn đoàn lưu ngụ đều thuộc hạng cao cấp, để có thể có bác sĩ hoặc chuyên viên y tế sẵn sàng trong nội vi.

Tôi còn nhớ chuyến đi Hành Hương Trung Quốc năm 2005, đoàn rất đông và có nhiều vị lớn tuổi hoặc có những bệnh của người già như tiểu đường, cao máu, bệnh tim. Dù lớn tuổi, dù bệnh, quí vị đó muốn đi hành hương chiêm bái Phật tích nên Tanya rất hoan hỉ sửa soạn sẵn cho những tình huống khẩn cấp. Quả nhiên là một tối kia vào lúc 9 giờ, chuông điện thoại phòng trưởng đoàn Tanya reo, tiếng đầu dây bên kia hốt hoảng báo tin bác ngụ chung phòng bị khó thở. Ngay lập tức Tanya báo cho khách sạn và chưa đầy 5 phút, bác sĩ và y tá đã tới với bệnh nhân. Đêm đó Diệu Đạt và cô y tá thức cho tới sáng luôn. Bà cụ nằm nghỉ một ngày, qua hôm sau lại vui vẻ tiếp tục hội nhập vào với đoàn chúng tôi đi vãn cảnh chùa chiền.

Tanya tâm sự:

– Có người nói đưa các cụ già hoặc có bệnh kinh niên đi rất mệt. Nhưng cháu lại thấy rất nên đưa các cụ đi, vì càng ngày các cụ càng già thêm, càng bệnh thêm, chẳng lẽ các cụ không còn được đi hành hương, đi du lịch, không còn được thấy cảnh đẹp bốn phương nữa hay sao?

Trong chuyến đi Nhật lần này, kỷ niệm đẹp thì tôi giữ trong tâm nhiều lắm, chẳng thể nói cho hết lời. Nhưng có vài nơi đem lại cho tôi nhiều ấn tượng đặc biệt. Đó là quang cảnh khu chùa Thanh Thủy Tự (Kiyomizu Dera Temple) thuộc Duy Thức Tông, là một trong những ngôi chùa thờ Phật lớn nhất nước Nhật dựng trên gần đỉnh núi do sức chống của những cây cột gỗ qu‎í gắn vào nhau bằng những khớp gỗ, không dùng đến đinh sắt, cho nên trải qua nhiều trăm năm mà không bị đinh sắt han gỉ gây hư hoại đến sự vững vàng uy nghi. Sát bên là ngôi đền danh tiếng Jishu-Jinja Shrine, đền thờ Thần Tình Yêu, nơi có 2 tảng đá dựng cách nhau chừng 60 feet, được gọi là tảng đá tình yêu. Hai nơi thờ tự thuộc hai niềm tin khác biệt lại sánh vai hài hòa sừng sững tôn nghiêm trong cùng một khu, nói lên tinh thần hòa đồng tôn giáo tại Nhật, người đi lễ tới chùa Phật tọa thiền cho tâm hồn an lạc, thanh tịnh, rồi bước qua đền thờ Thần cầu nguyện cho tình yêu thăng hoa, được cùng người yêu l‎ý‎ tưởng đi trọn đường đời.

Ngoài ra, cảnh đẹp thần tiên mà tôi sẽ còn nhớ lâu là “Con đường của triết gia” (Philosopher’s Path). Con đường thật tuyệt vời! Ở giữa là dòng suối nhân tạo nước trong veo nhìn suốt tận đáy. Mỗi bên dòng suối là hai dẫy đá tảng xếp liên tục làm lối đi, song song với hai hàng cây anh đào hoa nở rộ rợp bóng, chạy dài hàng cây số, vun vút tít mù xa. Gió nhè nhẹ mơn man rung rinh rừng anh đào, những cánh hoa lả tả theo gió la đà xuống dòng suối bập bềnh trôi, người lữ khách bâng khuâng nhớ về quê hương xa xôi, có gia đình yên vui bên ánh lửa hồng trong căn nhà êm ấm.

Một điểm son dành cho giới khách sạn Nhật Bản là trong số sáu nơi tôi lưu ngụ, có hai khách sạn để sẵn cuốn The Teaching of Buddha ngay trong ngăn kéo bàn đầu giường, bên cạnh cuốn Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa.

Chỉ có một tuần lễ trên đất Nhật mà chan chứa trong lòng tôi biết bao nhiêu kỷ niệm, với những người bạn đồng hành, với người hướng dẫn viên bản xứ, với người tài xế và chú kéo xe tử tế, với những sự dịu dàng ưu ái của mọi người chung quanh. Nhưng ‎ý‎ nghĩa nhất chính là niềm vui tôi được tới tận miền đất đã sản sinh ra các thiền sư uyên thâm Phật học, mà những sách luận giải của các ngài đã giúp tôi hiểu được cốt tủy của đạo Phật.

Xin cảm ơn đời, cảm ơn người, cảm ơn những danh lam thắng cảnh, những hoa thơm cỏ lạ mà tôi đã được thưởng thức trong một tuần lễ trên đất Nhật.

Liên Hương (ĐPK)

Hương Thu – Đỗ Phương Khanh


 

VÂN tỉnh dậy lúc trời xẩm tối. Mưa rả rích. Cuối giường, thằng Tùng nằm ngủ li bì. Chân nó vẫn còn mang giầy. Tay nắm hờ con búp bê nhỏ xíu. Một cơn gió lành lạnh lùa vào phòng. Mấy sợi tóc tơ của Tùng bay phơ phất. Hai riềm mi đen dài cong vút. Thỉnh thoảng nó nhếch miệng cười vu vơ trong giấc mộng.

Hồi chiều hai mẹ con đi mua đồ chơi Trung thu cho Tùng. La cà khắp các phố, Vân mới mua cho con được một chú búp bê nhỏ. Nàng còn định dẫn nó đi mua đèn. Xong sẽ lên hàng Buồm mua thêm hộp kẹo. Để tối cho nó bầy cỗ. Và mua cho mình một cân bánh dẻo. Nàng dự định sẽ kê bộ sa lon mây ra cạnh bể non bộ. Chỗ ấy được trông thấy trăng trước nhất. Đúng lúc trăng bắt trầu mọc, Vân và chồng sẽ ra mở hộp bánh, pha trà thưởng trăng. Nàng sẽ kê cho Tùng bộ bàn ghế nhỏ xíu của nó ra giữa sân và hộp kẹo là của riêng nó. Vân sẽ cho nó mượn cái khay để nó bầy cỗ. Có lẽ phải mua cho nó bộ ấm chén bằng nhựa nữa. Ngoài ra, Vân sẽ cho nó mượn cái hộp bích qui đựng đồ khâu của nàng để nó làm bàn thờ. Còn cái đèn mà nàng sắp mua đây thì sẽ treo trên cành ngâu. Thằng Tùng quay mặt về phía ấy. Chắc nó thích đèn hơn trăng. Mà vợ chồng nàng thì thích trăng hơn đèn. Đêm nay, Vân sẽ rủ chồng thức thật khuya để xem trăng có bị gấu ăn không.

Vân dẫn con đi khắp các hiệu đèn Trung thu. Nào là đèn kéo quân to, có tua chung quanh với đoàn quân bên trong cứ chạy xuôi rồi chạy ngược. Nào là đèn lồng cổ Trung Hoa có treo trên cửa hiệu khách lớn. Rồi đèn con bướm, đèn tầu bay, đèn xếp… Thằng bé cứ ngây người nhìn. Nhiều lúc Vân phải lôi nó đi. Chung quanh nó là một rừng đèn đủ mầu sắc. Nó bước theo mẹ mà mắt đã bị đám đèn thu hút.

Vân muốn chọn cho con một cái đèn ông sao thật to. Vì to, nó sẽ không vác đi chơi được, không sợ bị cháy, rách. Nàng sẽ treo lên cây ngâu từ chiều. Thằng bé chắc chỉ quanh quẩn bên cái đèn, khỏi chạy ra ngõ nhập bọn với lũ bạn nó, lũ bạn có những thằng trông hung hăng và lớn hơn nó nhiều. Vân tránh không muốn vì bênh con mà mất lòng hàng xóm thành ra rất ngại có chuyện xích mích giữa lũ trẻ, nên nàng muốn thằng bé chỉ chơi ở trong nhà. Với cái đèn to, chắc nó cũng thích lắm.

Rồi ngày mai, hết Trung thu, Vân sẽ đem cái đèn đó vào phòng khách treo lên tường để che khuất chỗ vữa bị lở bằng bàn tay, Vân đã định đến cuối năm nhân dịp quét vôi mới sửa luôn thể.

Vân bảo con :

– Tùng ơi, mẹ mua cho con cái đèn này nhé. Đèn to nhé. Con có thích không ?

Nhưng thằng bé không thích. Nó đang mân mê cái đầu sư tử có bờm trắng như bông. Cái mồm rộng mở ra ngậm lại. Nó đã trông thấy thằng Lộc bạn láng giềng của nó đội cái đầu sư tử giống cái này. Thằng Lộc vừa chạy, vừa nhẩy, đầu lắc lư, mồm hét :

– Lùng tùng xoè… lùng tùng xoè.

Tùng háo hức :

– Mẹ ơi ! Mua cho Tùng cái đầu sư tử này đi. Thằng Lộc nó múa. Tùng cũng múa như nó.

Vân dỗ dành :

– Tùng dốt lắm. Đầu sư tử bé, mà múa mỏi chân. Để mẹ mua cho cái đèn ông sao to này.

Nhưng thằng Tùng hăng hái :

– Tùng thích bé, Tùng thích mỏi chân. Mẹ mua cho Tùng đầu sư tử này đi.

Vân cáu :

– Thôi, không mua đèn ông sao thì thôi. Mẹ ghét sư tử.

Thằng bé túm lấy áo mẹ phụng phịu. Bà chủ hàng muốn bán được cái đầu sư tử nhiều tiền hơn, bàn góp:

– Thôi ! Bà chiều cậu ấy mà. Chỉ đắt hơn một tí có là bao.

Vân thấy tưng tức ở cổ. Trong một giây nàng thoáng nghĩ đến bộ quần áo tầm thường nàng mặc, có lẽ bà ta đã nghĩ rằng vì tiền mà nàng kỳ kèo với con như vậy. Vân muốn tỏ cho bà ta biết nàng không mua đầu sư tử cho con nàng vì nàng sợ nó la cà khắp xóm chứ không phải vì tiếc tiền.

Nàng nhìn thẳng vào bà ta, trên mặt bà có một nét cười đầy vẻ ngạo mạn. Vân càng bực mình hất hàm:

– Bao nhiêu cái đầu sư tử ?

Bà chủ vẫn cười:

– Thưa bà tám chục.

Vân mở ví lấy tiền mua liền. Rồi vừa dắt con trở ra, nàng vừa dằn giọng bảo con nhưng cốt ý để cho người đàn bà nghe:

– Mua rồi thì cấm chạy ra đường đấy nhé!

Ra đến ngoài Vân lại thấy bực mình thêm. Thực ra cái đầu sư tử chỉ đáng giá năm chục là cùng, vậy mà nàng đã chịu mua đắt quá. Lúc tức lên, Vân chỉ muốn tỏ cho bà chủ hàng biết là nàng có nhiều tiền. Nhưng bây giờ nàng thấy mình thật vô lý. Tự nhiên mất không mấy chục. Mà có lẽ mụ chủ hàng còn cười cho mình là trẻ con, đã bị họ nói khích.

Nhìn cái đầu sư tử trong tay con, Vân thấy dự tính của mình trong buổi đi sắm đồ chơi cho con đã mất cả ý nghĩa. Chỉ tại thằng Tùng rắc rối. Nếu biết thế nàng đã chọn đầu sư tử cho nó trước, để nó đòi mới được thì sau nó sẽ đòi mãi. Vân ghét tính đòi hỏi của trẻ con. Nàng không muốn mình thua con trong bất kỳ trường hợp nào. Nhiều lần sắp đi chơi, nàng đã định bụng sẽ cho nó cùng đi. Nhưng nó lại đòi đi. Thế là nàng nhất định bắt nó ở nhà. Vân không muốn bị ai sai khiến.

Sự bực bội cứ tăng dần khiến Vân không còn thấy hứng thú dẫn con đi sắm tết nữa. Vân gọi xe trở về. Đến nhà, nàng vào thẳng giường. Con bé người ở, quần áo chỉnh tề chờ sẵn:

– Thưa mợ, xin phép mợ cho con về thăm em con một lúc.

Vân quát :

– Về ! Người ta bận mà về gì ? Đừng có rắc rối !

Con bé sợ sệt lủi xuống nhà.

Thật ra, chiều nay nàng không bận gì cả. Hai vợ chồng đã bảo nhau cúng buổi sáng để chiều đi chơi. Tùng thấy mẹ giận len lén đến chân mẹ đứng im thin thít. Nó muốn chụp cái đầu sư tử lên đầu, soi vào trong gương kia lắm. Nhưng nó thấy sợ sợ thế nào ấy. Nó không hiểu tại sao mẹ nó lại giận đến như thế. Nhưng mang máng, nó nghĩ rằng có lẽ vì nó.

Gắt xong, Vân đã thấy lòng diu dịu, nàng hé mắt nhìn thấy con cứ soi vào gương rồi lại nhìn mình thì cũng thương hại. Thằng bé chả có đồ chơi gì. Hôm nay nhân vay được lương sớm, hai vợ chồng đã dành riêng ra một món để mua đồ chơi cho con. Nàng đã định sẽ hết sức chiều con cho ngày vui của nó được hoàn toàn. Thế mà lại giận nó. Nàng ân hận về tính nóng nẩy của mình. Nhưng chả lẽ lại làm lành. Như thế lần sau nó không sợ nữa. Vân nằm quay vào trong rồi ngủ quên mất.

Bây giờ nhớ lại, Vân nao nao thương con. Nàng se sẽ nâng đầu nó lên kê gối vào cho nó, rồi Vân bước xuống đất. Cái đầu sư tử lăn lóc bên cạnh đôi guốc của nàng. Vân cúi nhặt lên đặt vào cạnh con.

Vân lên tiếng gọi bé ở. Không có tiếng đáp. Nàng đi khắp nhà tìm nó. Nhưng không thấy đâu cả. Cuối cùng, Vân leo lên căn gác xép để đồ đạc. Trong bóng tối lờ mờ, con bé nằm co quắp. Má còn ngấn nước mắt. Thỉnh thoảng nó lại nức lên, hai vai gầy rung nhè nhẹ. Tay nó nắm một gói bọc bằng cái khăn mùi soa cũ. Vân sẽ gỡ lấy cái gói mở ra xem. Trong có mấy con giống xanh đỏ bằng bột và một cái đèn xếp nhỏ xíu bằng bàn tay. Bây giờ Vân mới nhớ ra rằng một hôm đã lâu, Vân hứa Trung thu sẽ cho nó về thăm em nó. Có lẽ vì thế mà con bé dành dụm tiền để mua đồ chơi cho em. Bố mẹ nó đã chết cả. Chị em nó ở với bác. Bác nó cho nó đi làm với Vân rồi hàng tháng đến lĩnh lương nói là để nuôi em nó. Nhưng có lẽ em nó không được sung sướng. Vì có một lần đến lĩnh lương bác nó dẫn em nó theo. Thằng bé trông cũng có vẻ thông minh nhưng bẩn thỉu. Nó ngơ ngác nhìn Vân rồi ôm lấy chị nó. Lúc về, thằng bé khóc thút thít. Bác nó lừ mắt, thằng bé vội nín bặt, theo sau bà ta. Cả ngày hôm ấy chị nó ngơ ngẩn. Vì thế, Vân hứa tết Trung thu sẽ cho nó về thăm em.

Thằng bé chiều nay chắc buồn lắm. Ngoài đường, đứa nào cũng có đồ chơi cầm tay. Còn nó, chắc không có. Vân nghĩ đến đôi mắt vời vợi của nó, nàng thoáng nhớ một cái tết Trung thu năm nào của chính mình. Đã xa lắm. Từ năm nàng mới tám tuổi. Dạo ấy vì cha mẹ làm ăn khó khăn nên cô nàng nuôi đỡ cho một cháu giúp anh chị. Hôm tết Trung thu cô chú đem các con đi suốt buổi chiều. Sẩm tối cũng chưa về. Ngoài đường, trẻ con đi lại tấp nập. Có đứa đi một mình tay cầm đèn. Có đứa nũng nịu đánh đu dưới tay mẹ. Một lát, cô chú Vân về, các em nàng chạy ùa xuống xe đứa nào cũng có đồ chơi khoe rối rít. Lúc cô của Vân xuống, bà moi ở giỏ đưa cho Vân mấy cái kẹo:

– Đây, phần mày. Mày thì cho kẹo mà ăn. Đồ chơi rồi lại làm hỏng chứ gì.

Vân lí nhí cảm ơn, cầm mấy cái kẹo rồi ra cổng. Tuy còn nhỏ, Vân đã cảm thấy sự lạc lõng của Vân trong gia đình ấy. Vân gục đầu vào cánh cổng ngó ra đường. Qua cánh cổng bằng nan sắt, xa xa đường xe lửa mờ dần trong sương chiều. Đã có lần mẹ Vân nói với Vân rằng những chuyến xe về nhà Vân cũng chạy trên con đường này. Vân ước ao sẽ có chuyến xe lửa qua đây. Rồi một chiếc xe tay sẽ ngừng lại trước cửa. Mẹ Vân bước xuống với những giỏ, những làn lủng củng. Và ngày mai,Vân sẽ được theo mẹ về chơi với em, cũng trên những chiếc xe lửa vẫn qua lại đây như mọi ngày. Vân lại sẽ ngửi thấy thoang thoảng có mùi bánh mì cặp chả, mùi khói tàu và những mảnh tàn than nhỏ xíu dính đầy quần áo. Sự ao ước kéo dài nhưng vẫn không có cái tàu nào cả. Và rồi Vân buồn ngủ rũ ra, cả trong giấc mơ Vân cũng không gặp mẹ.

Mỗi lần nghĩ lại, Vân còn thấy tủi thân. Thế mà ngày nay, Vân lại nhẫn tâm hơn bà cô nàng xưa kia. Nàng nghĩ đến thằng bé. Chắc nó cũng chờ chị nó. Hoặc nó lủi thủi đi nhặt những cái đèn rách của trẻ con hàng xóm. Hay cũng như chị, nó đang rúc trong một xó ngủ vùi.

Vân lay con bé. Nó hoảng hốt nhỏm dậy nhìn nàng sợ hãi. Nhưng Vân dịu dàng :

– Dậy đi, dậy sửa soạn mau lên rồi về với em.

Lúc con bé lên chào nàng, Vân đưa cho nó cái đầu sư tử :

– Cầm về cho em. Ở nhà chơi với nó, mốt hãy ra.

Nhìn con bé khuất sau cánh cửa, nàng ôm chặt con vào lòng nghĩ thầm :

– Lát nữa bố về, mẹ bảo bố dẫn mẹ con mình đi chơi. Rồi mẹ mua cho con kẹo này, ấm chén này, và một cái đầu sư tử khác.

ĐỖ PHƯƠNG KHANH

(Trong tập truyện ngắn Hương Thu)